丁族千秋畱玉彩
Đinh tộc thiên thu lưu ngọc thái — « Dòng họ Đinh, ngàn thu giữ mãi sắc ngọc »
Lịch sử dòng họ Đinh Nho Hương Sơn
Dòng họ khoa bảng, quan lại và chí sĩ yêu nước,
từ thế kỷ XVI đến ngày nay
Sơn Hòa · Hương Sơn · Hà Tĩnh · ~1543 → 2023
Gần năm thế kỷ, hai mươi đời
Dòng họ Đinh Nho định cư tại An Ấp, huyện Hương Sơn (nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) vào khoảng 1543–1546. Tính từ tổ khai canh đến nay đã gần năm trăm năm và hai mươi đến hai mươi mốt đời, con cháu ngày nay tản mác khắp trong nước và ra ngoài biên giới.
Điều làm dòng họ này nổi bật, hơn cả những danh hiệu khoa bảng, là sự liên tục của ký ức thành văn. Trải qua những trận hỏa hoạn, những cuộc di dời và cơn biến loạn của Cải cách ruộng đất, bộ gia phả vẫn sống sót — được sao chép, phiên dịch, phục hồi qua nhiều bàn tay suốt ba thế kỷ. Chính trên nền ký ức ấy, và công sức khôi phục gia phả kèm theo, mà câu chuyện sau đây được dựng lên.
Bài viết này dựa vào ba nguồn chính : gia phả dòng họ năm 2000 (tái bản 2010 và 2020), lịch sử dòng họ của Đinh Tú Anh (2023), và luận văn đại học của Nguyễn Văn Sô (Trường Đại học Vinh, 2008).
Trong đó, sự kiện đã xác nhận được phân biệt rõ với giả thuyết có cơ sở ; những chỗ còn thiếu được ghi nhận chứ không bịa ra ; những đính chính được nêu tường minh ; và khi các nguồn mâu thuẫn nhau (trường hợp nhánh Hàm Giang), cả hai phiên bản đều được trình bày và mâu thuẫn được để ngỏ.
Mười một chương
- Nguồn gốc — từ Đinh Điền đến cuộc chạy loạn nhà MạcCụ bà Hoàng Quý Thị và bốn anh em (thế kỷ XVI)
- Một mạch đơn — sáu đời liền tiếpDòng chính từ tổ khai canh đến Đinh Hữu Luân
- Cất cánh — Đinh Nho Công & Đinh Nho HoànÔng đỗ đầu, tiến sĩ đi sứ, bà Phan Thị Viên
- Bốn chi từ thế hệ thứ 7Hương Sơn (hai ngành), Cương Gián, Thanh Liên
- Nhà thơ Đinh Nhật Thận« Thu dạ lữ hoài ngâm »
- Chi khanh đạt — hậu duệ của Đinh Nho TĩnhTiến sĩ Đinh Nho Điển, Tuần phủ Đinh Nho Quang, dòng họ Đặng
- Chi thứ và những chí sĩĐinh Doãn Tế, Đinh Nho Bộc, nhà thơ Quỳnh Dao
- Nhánh Nghi Long — dòng Đinh VănBốn đời tiến sĩ liên tiếp ; Thượng tọa Thích Minh Châu
- Các nhánh khác — Đức Thủy, Trung Lương, Hàm GiangMối liên hệ được xác nhận và còn tranh luận
- Dòng họ trong thời hiện đạiNhà ngoại giao, nhà sử học, nhà khoa học, thế hệ mới
- Di tích và sự lưu truyền gia phảĐền, mộ, và sự sống còn của Hương Yên phổ tự
- 1527Chạy loạn Mạc: bốn anh em rời Gia Viễn (Ninh Bình)
- ≈ 1543Đinh Phúc Diên khai canh ở An Ấp (Hương Sơn)
- 1670Đinh Nho Công, tiến sĩ đầu tiên — bia Văn Miếu
- 1700Đinh Nho Hoàn, Hoàng giáp — tấm bia thứ hai của dòng họ
- 1715–1716Đi sứ Bắc Kinh; Đinh Nho Hoàn mất trên đường sứ; tiết phụ Phan Thị Viên tuẫn tiết
- 1838Đinh Nhật Thận đỗ tiến sĩ — tác giả Thu dạ lữ hoài ngâm
- 1884Đinh Nho Điển, tiến sĩ tuyệt thực, qua đời
- 2013Chi Cương Gián tìm lại gốc tổ sau ba thế kỷ
- 2023Xuất bản lịch sử dòng họ; khánh thành Lăng Trai Sơn
Nguồn gốc : từ Đinh Điền đến cuộc chạy loạn nhà Mạc
Theo truyền thống dòng họ, nguồn gốc xa xưa được truy lên đến Đinh Điền (924–979), một trong bốn danh tướng thân tín của vua Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Tiên Hoàng), người sáng lập triều đại đầu tiên của quốc gia. Quê tổ ở Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Mối quan hệ họ hàng xa xôi này, được chia sẻ bởi tất cả các dòng Đinh có liên quan, được lưu truyền qua truyền khẩu và những câu đối chữ Hán còn lưu giữ trong các đền.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Bốn anh em họ Đinh, con cháu của Đinh Điền và đang phụng sự nhà Lê, bỏ trốn cùng gia quyến và người mẹ già — cụ bà Hoàng Quý Thị. Họ vào châu Hoan — vùng đất Nghệ xưa (nay là các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh) — và tạm dừng chân ở thôn Thu Lũng, gần một cái đầm hình bán nguyệt (nay là Nghi Thu, Cửa Lò).
Cụ bà mất và các anh em chia tay
Một ngày tại đó, trong lúc giặt giũ, cụ bà Hoàng Quý Thị chẳng may bị chết đuối trong đầm. Đêm sau khi chôn cất, tương truyền, mưa to gió lớn đã cuốn đất cát về lấp lên mộ thành một gò đất lớn : dân làng thấy vậy cho là ngôi mộ được Trời đào sẵn và coi chỗ đó là linh thiêng. Sau khi mãn tang, các anh em thấy không nên ở cùng nhau và chia nhau về các vùng :
Đinh Phúc Diên → Hương Sơn
Đưa gia đình đến An Ấp (Hương Sơn) ; tổ khai canh của dòng họ Đinh Nho, đối tượng của cuốn lịch sử này.
Đinh Phúc Tiên → Nghi Long
Ở lại trông coi mộ mẹ ; tổ của họ Đinh Văn ở Kim Khê (Nghi Long, Nghi Lộc).
Đinh Phúc … → Đức Thủy
Tên húy nay không còn biết. Lập nghiệp ở Đông Khê (nay là Đức Thủy, Đức Thọ) ; tổ của họ Đinh Trọng / Đinh Văn ở Đức Thủy.
Đinh Phúc An → ra Bắc
Trở ra Bắc « dò hỏi tin tức » cho các anh. Việc gắn kết ông với họ Hàm Giang (Hải Dương) được một phía đưa ra nhưng vẫn chưa được chứng minh (xem chương IX).
Sự có mặt của cụ bà và bốn anh em, cũng như cuộc phân tán về Hương Sơn, Nghi Long và Đức Thủy, được xác nhận vững chắc : ba dòng họ đó công nhận lẫn nhau, qua lại thăm viếng và cùng tế lễ tổ tiên. Mộ cụ bà (nay ở nghĩa địa Kỳ Ông Trường, Nghi Long) và mộ người anh thứ hai được chung tay chăm sóc, phía trên dựng tấm bia ghi « bốn anh em, con trai của cụ bà ».
Tuy nhiên, gia phả Hương Sơn chỉ nói « nhiều anh em » mà không nêu số lượng hay tên húy : chính gia phả Nghi Long mới cung cấp câu chuyện chi tiết về bốn anh em. Các nguồn thậm chí còn bất đồng về quê gốc : « Gia Viễn » theo Đinh Nho, « từ Bắc » theo Đinh Văn ở Nghi Long.
Người anh cả, Đinh Phúc Diên, đưa gia đình đến An Ấp, Hương Sơn, khoảng 1543–1546, và trở thành tổ khai canh của dòng họ Đinh Nho. Gia phả không ghi ngày sinh, ngày mất, chỉ ghi tuổi thọ : chín mươi ba tuổi. Vì em là Đinh Phúc Tiên sinh năm 1477, người ta ước tính Đinh Phúc Diên sinh khoảng trước 1475 — như vậy ông đến An Ấp khi đã khoảng bảy mươi tuổi, đã có con cháu đi cùng. Ông mang hàm Tả Hiệu Điểm, Công Tây Hầu, phẩm cấp thứ hai.
Một mạch đơn : sáu đời liền tiếpđộc đinh — « mỗi đời chỉ một người con trai »
Suốt sáu đời, dòng họ chỉ gắng gượng trên một sợi dây : mỗi đời tổ chỉ có một người con trai để nối dõi tông đường. Đây là nét đặc biệt nhất của thời kỳ đầu, và là điều làm cho sự phát triển tiếp sau càng trở nên đáng kinh ngạc hơn.
Từ đầu, tất cả đều coi trọng việc học. Đinh Phúc Trường (đời 2) đỗ tứ trường lúc hai mươi bốn tuổi ; Đinh Phúc Bảo (đời 3), cũng đỗ nhưng không qua được kỳ thi tiếp, chuyển sang nghề thuốc ; Đinh Chính Tính và Đinh Phúc Khánh (đời 4 và 5) cũng vượt qua kỳ thi đó từ khi còn trẻ.
Đời thứ sáu là bước ngoặt. Đinh Hữu Luân (1602–1676) đỗ tứ trường lúc mười sáu tuổi (1617) và vào đội « văn thần » của phủ lúc mười chín tuổi (1620). Được điều đi dẹp loạn ở miền Nam, ông sau đó làm Thẩm tra huyện Đông Ngạn. Chính ông đã mở đường cho con trai mình.
Gia phả dòng họ Đinh ở Trung Lương gợi ý rằng khoảng đời thứ 3, một người con cháu đã tách ra đến Can Lộc, lập nên họ Đinh ở Trung Lương. Nếu đúng vậy, dòng họ đã không thực sự « độc đinh » — Hương Yên phổ tự đơn giản là đã bỏ qua nhánh phân chi sớm này. Câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ (xem chương IX).
Cất cánh : Đinh Nho Công và sự ra đời của một dòng khoa bảng
Chính từ đời thứ bảy mà dòng họ có được cái tên của mình : Đinh Nho Công vừa là người đỗ đầu của dòng họ, vừa là người phá vỡ thế độc đinh. Bốn chi lịch sử của họ đều xuất phát từ ông.
Đinh Nho Công (1637–1695) — vị tiến sĩ đầu tiên
Thuở nhỏ ham học, đỗ tứ trường lúc mười bốn tuổi, nhưng Đinh Nho Công phải bỏ học vì nghèo, trở về làm ruộng. Theo truyền thuyết dân gian — vẫn còn lưu truyền ở các làng bờ tả ngạn sông Ngàn Phố — một sáng khi đang cày, có một cụ bà tóc bạc hiện ra giục ông trở lại trường học. Ông lên Thăng Long (Hà Nội), kết bạn thân với một học trò xuất sắc của Quốc Tử Giám, một người họ Trần. Trước ngày thi, tương truyền người bạn ấy báo mộng báo cái chết của mình — và hứa sẽ phù hộ ông trong kỳ thi, với điều kiện ông sau này lập một bàn thờ nơi đám mây trắng tụ lại.
Đinh Nho Công đỗ tiến sĩ (đệ tam giáp đồng tiến sĩ) khoa Canh Tuất, năm 1670, dưới triều Lê Huyền Tông. Tên ông ngày nay vẫn còn khắc trên bia tiến sĩ ở Văn Miếu — Quốc Tử Giám Hà Nội. Nổi tiếng thanh liêm, ông từng làm Giám sát Ngự sử, rồi Thiêm Đô Ngự sử. Vua ban câu khen bốn chữ « Ngôn ngữ phong lăng » (lời nói sắc bén, bạo dạn). Sau khi mất, dưới triều Cảnh Hưng, ông được phong thần với danh hiệu 英毅大王 Anh Nghị Đại Vương, rồi được phong lại dưới triều Nguyễn.
Để giữ lời hứa, ông cho dựng một ngôi đền trên gò Cồn Mai thờ người bạn đã khuất : đền Bạch Vân (hay đền Thịnh Xá), truyền thuyết về đó vẫn còn được kể đến. Đinh Nho Công có mười hai người con, trong đó sáu trai — bốn người trong số đó là tổ của bốn chi dòng họ.
Đinh Nho Hoàn (1671–1716) — vị Hoàng giáp đi sứ
Người con thứ ba của Đinh Nho Công, Đinh Nho Hoàn (hiệu Mặc Trai, tự Tồn Phác), mồ côi mẹ lúc ba tuổi. Hai mươi chín tuổi, ông đỗ tiến sĩ hạng Hoàng giáp khoa Canh Thìn, năm 1700, xếp thứ ba của khóa ; tên ông liền kề tên cha trên bia Văn Miếu. Cha con đều đỗ tiến sĩ : vinh dự hiếm có, sánh với dòng Đinh Văn ở Nghi Long.
Được cử làm Đốc trấn Cao Bằng năm 1704, ông nổi tiếng với một nền cai trị khai sáng : sửa đường sá, phá đá ngầm trên sông Bằng Giang để thông thuyền bè, giảm thuế và đẩy nhanh thủ tục hải quan để khuyến khích thương mại. Các thương nhân Trung Hoa, mang ơn, dựng trước hội quán của họ một tấm bia mừng công đức — « Đức chính bia », bản văn còn lưu lại đến ngày nay : « Chúng tôi thấy lòng quan sáng như gương, trong như tranh… chưa bao giờ có quan nào thương xót các thương nhân như ngài. » Tại đây ông cũng soạn Hoán tỉnh châu dân từ (148 câu nôm khuyến dân làm lành) và Cao Bằng thập thủ (mười bài thơ tức cảnh Cao Bằng).
Được triệu về kinh khoảng năm 1710 làm Thượng Bảo Tự khanh, coi ấn tín tại Hàn lâm viện, ông được cử năm 1715 làm Phó sứ trong đoàn cống sứ sang triều Thanh. Đại Việt sử ký tục biên đã ghi rõ chuyến sứ này. Nhưng tại Yên Kinh (Bắc Kinh), nhiệm vụ hoàn thành, ông lâm bệnh và mất vào ngày 27 tháng Chạp âm lịch (đầu 1716), không kịp trở về.
銀散滿城遊子月,
金吹千里故人風。Ngân tán mãn thành du tử nguyệt,
Kim xuy thiên lý cố nhân phong.« Trăng kẻ tha hương rải bạc khắp thành ;
Đinh Nho Hoàn, « Gặp Khâu Đinh Thần người Phúc Kiến đến thăm » — Mặc Ông sứ tập
gió người cố tri thổi vàng ngàn dặm. »
Vua Khang Hy xúc động, cho ướp thi hài và đưa về nước theo đoàn sứ, sai quan bộ Lễ đến làm lễ điếu trọng thể : « Ông đã hoàn thành sứ mệnh của vua mình… Sao lại từ biệt cõi đời sớm vậy ? Lòng ta đau xót không sao kể xiết. » Tại triều Lê, ông được truy thăng Lễ Bộ Tả Thị lang, rồi phong thần Đắc Đạt Đại Vương.
Từ những bài thơ ông làm dọc đường, con rể là tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường đã sưu tầm lại được những bài còn lại — thành Mặc Ông sứ tập, hiện còn 103 bài thơ chữ Hán (phần nôm đã thất lạc). Năm 2009, nhà ngoại giao Đinh Nho Liêm (đời 16) cùng nhà ngữ văn Ngô Đức Thọ xuất bản bản dịch có chú thích — Mặc Trai sứ tập. Câu gia huấn mà Đinh Nho Hoàn để lại cho con cháu tóm tắt tinh thần của dòng họ :
« Tiến vi nghĩa sĩ, thoái vi lương nông » — Ra làm quan thì xứng là người sĩ phu có nghĩa ; lui về thì xứng là người nông dân tốt.
Phan Thị Viên — bà Tiết Phụ, thần của đền Gôi Vỵ
Không có con trai, Đinh Nho Hoàn nhận một người con thừa tự. Nhưng ký ức về ông gắn liền với người vợ kế — Phan Thị Viên, người Do Lễ (Hưng Nguyên). Câu chuyện về bà như trong tiểu thuyết : cha bà, một viên chức bị vu oan, đã được Đinh Nho Công tha khi ông đi thanh tra nhà ngục với tư cách ngự sử ; trước khi mất, cha bà đã ký thác hy vọng rằng con gái có ngày đền đáp ơn đó. Nhiều năm sau, theo cơ duyên mà tương truyền là do trời định, Đinh Nho Hoàn bước vào căn lều nơi hai mẹ con tá túc — và cưới bà.
Lấy chồng năm mười sáu tuổi, Phan Thị Viên thông chữ, giỏi thơ, đủ tứ đức. Khi chồng lên đường đi sứ, bà tiễn đến trạm Lã Côi và trao cho ông, một mạch, mười bài thơ — « để dọc đường ngó lại, như có em đi theo ». Đáp lại, ông cởi áo đưa cho bà. Ba trong mười bài đó vẫn còn trong gia phả.
« Ngày Đinh Nho Hoàn mất, bà còn trẻ ; nhưng sau khi đưa linh cữu chồng về và tang lễ xong, bà tự vẫn. »
Hồi ký của giáo sư Đặng Thai Mai, về bà Tiết Phụ
Vì hành động tiết nghĩa ấy, triều Lê ban tấm biển « Tiết hạnh khả phong » và bà được phụng thờ là « bà Tiết Phụ / Tiết Nghĩa ». Theo Đặng Thai Mai, bà là bạn thân của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.
Đền Gôi Vỵ (đền bà Tiết Phụ) thờ bốn « phúc thần » của dòng họ, cùng trong một vòng gia quyến : Đinh Nho Công (người cha), Đinh Nho Hoàn (người con), Phan Thị Viên (người dâu) và Đinh Nho Côn (người con khác, tổ chi Thanh Liên). Đền cũng thờ tổ xa Đinh Điền.
Bốn chi từ thế hệ thứ 7
Trong sáu con trai của Đinh Nho Công, bốn người có con nối dõi và lập nên bốn chi của dòng họ. (Đinh Nho Huân, tài giỏi nhưng mất sớm, và Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn, không con trai, đều không có hậu duệ trực tiếp.)
Đinh Nho Trạch (1656–1711)
Con trưởng của vợ cả. Đỗ cử nhân năm mười tám tuổi ; đương thời được ví như « tiên ông ». Hậu duệ mang mã A trong gia phả.
Đinh Nho Thận
Con trưởng của vợ thứ. Hậu duệ mang mã B. Hai chi Hương Sơn cùng tế lễ tổ tiên tại nhà thờ chung.
Đinh Nho Thường
Tri huyện. Chuyển đến Can Lộc rồi Cương Gián (Nghi Xuân) ; tổ họ Đinh ở Cương Gián — « chi tìm lại » (xem dưới).
Đinh Nho Côn
Đỗ Giải nguyên, làm tướng (Tổng binh, Hương Nghĩa Hầu). Định cư ở Thanh Liên (Thanh Chương) ; chắt của ông là nhà thơ Đinh Nhật Thận (chương V).
Hai chi trưởng (A và B) ở lại Hương Sơn và ngày nay vẫn còn chung nhà thờ của thủy tổ ở thôn Đồng Vực (Sơn Hòa). Một phần con cháu sau đó tản ra Sơn Châu và Sơn Tân (Xa Lang).
Chi tìm lại ở Cương Gián
Câu chuyện nối lại quan hệ với Cương Gián là một cuộc điều tra thực sự, do Đinh Quang Tích, con cháu dòng họ đó, tiến hành. Gia phả Cương Gián dừng lại ở đời thứ 7 — tiến sĩ Đinh Nho Công — rồi lại tiếp tục với một « tổ khai canh » chỉ còn biết danh hiệu tôn kính là Đinh Đại Lang, không còn tên húy. Ông là ai ?
Manh mối quyết định là người con cháu Đinh Nguyễn Đôn, mà sách sử chính thức ghi ông đỗ hương cống năm 1759 và làm quan ở Quảng Bình. Tính ngược từ người chắt đó, có thể ước tính Đinh Đại Lang sinh khoảng 1678–1680. Trong số tất cả các con trai của Đinh Nho Công ra đi lập nghiệp nơi xa, chỉ có một người đúng độ tuổi đó và chưa có dòng dõi được xác định : Đinh Nho Thường. Suy luận dẫn đến kết luận : Đinh Đại Lang chính là Đinh Nho Thường, em của Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn.
Sau một hành trình dài (so sánh gia phả Cương Gián và Trung Lương, không tìm ra mối liên hệ trực tiếp), Đinh Quang Tích tìm thấy trang web của họ Đinh Việt Nam vào tháng 8/2011 và liên lạc với trưởng tộc Đinh Nho Quỳ. Khi đối chiếu hai gia phả, sự trùng khớp được mô tả là « rùng mình » : bảy đời đầu khớp nhau hoàn toàn, cả tên húy, chức tước và vợ. Lễ nhận họ chính thức diễn ra vào Rằm tháng 7/2013, và lễ chép lại gia phả ở thôn Song Long ngày 14/4/2022. Một điều bí ẩn vẫn còn đó : tên mà tổ đổi khi rời Hương Sơn vẫn chưa xác định được — đây là khoảng trống mà các nguồn thừa nhận.
Chi Thanh Liên
Người con thứ sáu, Đinh Nho Côn, vừa là nho sĩ vừa là người cầm quân, định cư ở Thanh Liên. Điều đáng chú ý trong gia phả chi này : dưới thời Pháp thuộc, sổ bộ ghi dòng họ là Nguyễn ; mãi đến triều Minh Mạng (1820–1841) tên Đinh mới được chính thức khôi phục. Chính người chắt của Đinh Nho Côn, nhà thơ Đinh Nhật Thận, khi đến nhận họ ở Hương Sơn, đã sao chép lại Hương Yên phổ tự — qua đó gián tiếp cứu lấy gia phả gốc (xem chương XI).
Nhà thơ Đinh Nhật Thậnvà « Thu dạ lữ hoài ngâm »
Đinh Nhật Thận (1815–1866), tự Tử Quý, hiệu Bạch Mao Am, chắt của Đinh Nho Côn, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất, năm 1838, dưới triều Minh Mạng. Là người phóng khoáng và độc lập, ông sớm ưa y thuật, thi ca và bạn bè hơn công danh : sau lần bị cách chức, ông từ chối phục chức năm 1843.
Là bạn thân của Cao Bá Quát và Nguyễn Hàm Ninh, ông bị liên lụy trong cuộc nổi dậy Mỹ Lương và bị bắt. Trân trọng tài năng xuất chúng của ông, vua Tự Đức giữ ông lại ở triều dạy học cho các hoàng tử — một thứ lao ngục vàng son mà từ đó ra đời kiệt tác của ông. Một đêm thu, trong cô đơn, ông viết liền mạch Thu dạ lữ hoài ngâm (« Bài ngâm đêm thu của người lữ khách »). Tác phẩm đến tai vua, làm xúc động đến mức nhà vua đã tha tội cho nhà thơ.
Đặc biệt về hình thức, tác phẩm có 136 câu chữ Hán nhưng theo thể song thất lục bát thuần Việt. Luận văn đại học năm 2008 xếp nó vào hàng bốn bài ngâm khúc hay nhất của văn học Việt Nam cổ điển, cùng với Kim Vân Kiều, Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc.
Nhiều nguồn thứ cấp (bài viết trên mạng chép lại nhau) ghi 1886 là năm mất. Đây là lỗi phổ biến. Gia phả dòng họ, lịch sử năm 2023 và luận văn năm 2008 đều thống nhất 1815–1866. Cuốn lịch sử này ghi nhận 1866.
Chi khanh đạt : hậu duệ của Đinh Nho Tĩnh
Cuối thế kỷ XIX, một ngành đạt đỉnh cao mới. Đinh Nho Tĩnh (đời 13, tự Hy Tăng), quan Thái bộc Tự khanh tam phẩm, có bốn người con, trong đó hai con trai làm quan và một người con gái sẽ mở ra một trong những mối quan hệ lừng lẫy nhất lịch sử Việt Nam.
Đinh Nho Điển (1846–1884) — vị tiến sĩ tự tuyệt thực
Đỗ cử nhân năm hai mươi hai tuổi (1868), rồi tiến sĩ khoa Ất Hợi, năm 1875 (thứ 3 trong mười một người đỗ), Đinh Nho Điển phụng sự bốn đời vua Nguyễn. Ông từng làm tri huyện Nghĩa Hưng, Hồng Lô Tự khanh, Giảng quan Bộ Hình, rồi biên tu ở Quốc sử quán, tham gia hiệu đính Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bộ chính sử của triều đại.
Sau các hiệp ước bảo hộ 1883–1884 đặt dấu ấn sự thống trị của Pháp, vị nho sĩ trung thành này chọn con đường bất hợp tác : ông tuyệt thực mà chết, năm ba mươi chín tuổi, không chịu nổi cảnh nước mất. Mười lăm năm sau, năm 1899, vua Thành Thái cho lập đền thờ — đền Cụ Hường, trên cổng đề bốn chữ 敕賜立祠 (« Vâng chiếu lập đền »). Đền được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2023.
Người cháu nội của ông, Đinh Nho Hân, là tiến sĩ hóa học đầu tiên của toàn cõi Đông Dương, tốt nghiệp tại Pháp — nhưng ông mất sớm.
Đinh Nho Quang (1831–1907) — vị tuần phủ
Anh cả của Đinh Nho Điển, Đinh Nho Quang (hiệu Bảo Hiên), đỗ cử nhân và lên đến chức Tuần phủ (tổng đốc tỉnh), rồi Tả Thị lang Bộ Hình. Chính ông, năm 1898, đã viết lại một lần nữa bộ Hương Yên phổ tự (xem chương XI).
Đinh Thị Hoan — người mẹ của một dòng dõi trí thức
Em gái của Đinh Nho Điển, Đinh Thị Hoan, người phụ nữ có học, thông minh và yêu nước, nổi tiếng với những câu đáp sắc bén trước các quan lại bán nước và sĩ quan Pháp, đã kết duyên với cử nhân Đặng Thai Giai. Từ cuộc hôn nhân này xuất phát một dòng dõi tưới nguồn cho toàn bộ lịch sử trí tuệ và chính trị Việt Nam hiện đại :
× Đặng Thai Giai→ Đặng Nguyên Cẩn
Phó bảng→ Đặng Thai Mai
1902–1984→ Đặng Bích Hà
× Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Con trai bà, Đặng Nguyên Cẩn, đỗ Phó bảng, là nhân vật nổi bật của phong trào cải cách và yêu nước. Cháu nội bà, Đặng Thai Mai (1902–1984), là giáo sư, nhà văn và nhà phê bình văn học hàng đầu, Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên và Viện trưởng đầu tiên của Viện Văn học Việt Nam. Và con gái ông, nhà sử học Đặng Bích Hà, đã kết hôn với đại tướng Võ Nguyên Giáp — qua đó nối dòng họ Đinh Nho với một trong những nhân vật vĩ đại nhất thế kỷ XX của Việt Nam.
« Chính nhờ bà, nhờ những phẩm chất cao quý kiên định, tình yêu thương mênh mông và sự chịu đựng lặng lẽ, kiên quyết trước mọi thử thách, mà tôi hiểu và ngưỡng mộ sức mạnh tiềm ẩn, phi thường của người phụ nữ Việt Nam. »
Đặng Thai Mai, viết về người bà Đinh Thị Hoan
Chi thứ và những chí sĩ
Chi thứ (mã B), hậu duệ của Đinh Nho Thận, đã cống hiến cho đất nước một dòng nhà giáo và chí sĩ — và chính trong chi này, ở đời thứ 17, đã được soạn ra cuốn lịch sử xuất bản năm 2023.
Từ Đinh Nho Lệ đến tác giả năm 2023
Đinh Nho Lệ (đời 14, còn gọi là cụ Hàn Lệ), đỗ tú tài, từ chối con đường làm quan để mở trường học. Con trai cả của ông, Đinh Nho Vy (1894–1959), cán bộ hành chính rồi Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Gia Lai, là ông nội của tác giả cuốn lịch sử năm 2023.
Một phiên bản trước của gia phả đã nhầm gắn Đinh Nho Lệ, Đinh Doãn Tế và Đinh Nho Bộc vào chi trưởng (A). Thực ra họ thuộc chi thứ (B), hậu duệ của Đinh Nho Thận. Cuốn lịch sử này áp dụng đính chính đó và chú rõ mã đúng trong mỗi trường hợp.
Hai anh em liệt sĩ của Đông Kinh nghĩa thục
Hai anh em đời 15 (B) đã hy sinh vì Tổ quốc, cả hai đều gắn với phong trào cải cách và yêu nước Đông Kinh nghĩa thục và dòng Phan Bội Châu.
Đinh Doãn Tế (Đinh Nho Thục) — « ít nói, điềm đạm, một người quân tử thực sự », Phan Bội Châu nhận xét trong Việt Nam liệt sĩ truyện. Sang Nhật học năm 1908, rồi lánh nạn ở Xiêm (Bangkok), ông tham gia năm 1910 vào một chuyến đi bí mật của Phan Bội Châu và Phan Bá Ngọc vào biên giới Nghệ–Tĩnh. Đau ốm, kiệt sức sau hơn một tháng băng rừng, ông mất tại Phù Xa, mới hai mươi sáu tuổi, miệng hô : « Giết người Pháp đi ! »
Đinh Nho Bộc, người làng Gôi Mỹ, hoạt động cùng Ngô Quảng, bị bắt ở Vinh ngày 31/8/1924 và bị đưa vào nhà tù Côn Đảo, nơi ông vẫn giữ vững khí tiết cách mạng. Ông đã sáng tác một bài thơ dài, gửi vợ qua một lần thăm nuôi.
Nhà thơ Quỳnh Dao (1918–1947)
Ở đời 17, Đinh Nho Diệm — còn biết đến với bút danh Quỳnh Dao — là một giọng thơ của phong trào Thơ mới. Con trai Đinh Nho Huề, nhà nho nghèo và yêu nước, ông xuất bản từ năm mười chín tuổi tập thơ Tiếng chuông chiều (1937), rồi Tơ trăng (1939), được giới phê bình đương thời đón nhận. Làm báo, ông chủ trì tạp chí Đông Tây trước khi bị thực dân Pháp đình bản.
Tham gia Cách mạng từ năm 1944, ông vượt ngục Hỏa Lò qua đường cống ngầm tháng 3/1945, tham gia cướp chính quyền, và có tên trong số 74 ứng cử viên Quốc hội khóa đầu tiên tháng 1/1946. Đầu năm 1947, khi đang đạp xe dưới bóng cây gần Tuyên Quang, ông bị đạn từ máy bay Pháp bắn chết. Tên ông khắc trên một trong những tấm bia đồng của khu tưởng niệm Hỏa Lò. Người con trai duy nhất, Đinh Nguyên Hà, lại ngã xuống ở chiến trường miền Nam sau khi nhập ngũ năm 1966.
Nhánh Nghi Long : dòng Đinh Văn
Người thứ hai trong bốn anh em, Đinh Phúc Tiên (1477–1550), ở lại trông coi mộ cụ bà và lập ra họ Đinh Văn ở Kim Khê (nay là Nghi Long, Nghi Lộc). Đỗ hương cống từ năm 1496, ông từ chối quan lộ để tròn đạo hiếu. Từ nhánh này nảy ra một trong những dòng khoa bảng hiếm có nhất Việt Nam.
Bốn đời tiến sĩ liên tiếp
Nhánh Nghi Long liên tiếp có bốn đời đỗ đại khoa :
Em của Đinh Văn Chất, Đinh Văn Uyển (tức Đầu xứ Uyển), là thầy học của chí sĩ Phan Bội Châu. Dòng họ này nhận họ hàng với Đinh Nho : Hoàng giáp Đinh Văn Chấp đã đích thân, vào những năm 1930, đến bái yết nhà thờ ở Hương Sơn và tặng một câu đối nổi tiếng xác nhận chung nguồn gốc :
Phả còn gốc, quên được sao, Hoan Ái hai châu bao thế thứ
Họ trong vùng, đâu xa lạ, Hồng Lam muôn thuở một giang sơn.« Gia phả còn gốc — sao có thể quên — hai châu Hoan, Ái, bao đời thứ tự ;
Câu đối của Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, tại nhà thờ họ Đinh Nho
dòng họ cùng vùng — nào có xa lạ gì — Hồng Lam muôn thuở một non sông. »
Thượng tọa Thích Minh Châu (1918–2012)
Con trai của Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, Đinh Văn Nam — trong đạo là Hòa thượng Thích Minh Châu — là một trong những nhân vật lớn nhất của Phật giáo Việt Nam. Thứ tư trong mười một anh chị em, tú tài trường Khải Định, ông bỏ chức thư ký để gia nhập phong trào chấn hưng Phật giáo từ năm 1936. Xuất gia, ông sang Ceylon (Sri Lanka) năm 1952, rồi sang Ấn Độ, Nalanda, và bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1961 so sánh Madhyama Āgama Hán tạng với Majjhima Nikāya Pali — người Việt Nam đầu tiên đạt học vị tiến sĩ Phật học, bằng cấp trao tận tay từ Tổng thống Ấn Độ.
Trở về năm 1964, ông sáng lập năm 1965 Viện Đại học Vạn Hạnh, lãnh đạo đến 1975, đào tạo hơn 4.500 sinh viên. Nhưng công trình cả đời là dịch toàn bộ Tạng kinh Pali (năm bộ Nikāya) ra tiếng Việt : hai mươi bốn tập, gần hai mươi nghìn trang, hoàn thành về cơ bản vào năm 2004 — lần đầu tiên trong lịch sử toàn bộ lời Phật được in thành sách tiếng Việt. Vì công trình đó, nhiều người gọi ông là « Huyền Trang của Việt Nam ». Ông viên tịch ngày 1/9/2012, thọ chín mươi lăm tuổi, để lại trên tháp mộ dòng chữ : « Yo sāro thassati — điều gì là lõi cây, điều đó sẽ tồn tại lâu dài. »
Các nhánh khác : Đức Thủy, Trung Lương, Hàm Giang
Đức Thủy — nhánh người anh thứ ba
Người anh thứ ba (tên húy đã thất lạc) định cư ở Đông Khê (nay là Đức Thủy, Đức Thọ) ; là võ quan hàm tứ phẩm, ông lập ra họ Đinh Trọng, đổi thành Đinh Văn từ đời thứ 9. Chi này đã có một phó bảng từ đời thứ 7 (Đinh Đăng Trù) và, ở thời hiện đại, có tướng Đinh Văn Khanh, Chính ủy Đoàn quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Nhà thờ, xây năm 1938, nhiều lần được dùng làm kho vũ khí trong hai cuộc kháng chiến, đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2009. Các bậc cao niên ở Đức Thủy vẫn truyền nhau câu nhắc nhở : « Họ Đinh chúng ta và họ Đinh Nho Hương Sơn không được lấy nhau, vì chúng ta là anh em. »
Trung Lương — một nhánh của họ Đinh Nho
Họ Đinh ở Trung Lương (nay là Hồng Lĩnh), theo gia phả của chính họ, gắn với gốc Đinh Nho : một người tổ đã tách ra khoảng đời thứ 3 để đến Can Lộc, rồi Trung Lương. Gia phả chữ Hán của họ, do nho sĩ Đinh Nho Tùng (đời 11) biên soạn, ghi cùng nguồn gốc Gia Viễn và giữ một bản chép tay Hương Yên phổ tự — điều đó cho thấy đã có sự công nhận lẫn nhau. Gắn với nghề truyền thống là rèn, chi này được coi là một nhánh của họ Đinh Nho — một sự phân chi sớm mà gia phả gốc có vẻ đã bỏ qua.
Hàm Giang — mối liên hệ được đưa ra nhưng còn tranh cãi
Trường hợp họ Đinh ở Hàm Giang (Hải Dương) minh họa cho sự nghiêm túc mà các nguồn tài liệu tự đặt ra. Tất cả phụ thuộc vào danh tính của người em út, Đinh Phúc An, và việc ông có gắn kết với danh tướng Đinh Văn Tả (sinh 1599) hay không. Về điểm này, hai phiên bản không thể dung hòa cùng tồn tại :
Đinh Văn Tả, cháu bốn đời của Đinh Phúc An
Theo bia « bốn anh em », Đinh Văn Tả là hậu duệ đời thứ 4 của Đinh Phúc An ; cha ông, Đinh Văn Phủ, tử trận ở Hải Dương năm 1600.
Đinh Văn Tả, hậu duệ trực tiếp của Đinh Điền
Theo Hàm Giang danh tướng liệt truyện (dẫn trong tạp chí Tri tân, 1943), dòng họ xuất phát thẳng từ Đinh Điền qua Thái bảo Đinh Đàm (sinh khoảng 1365), không hề nhắc đến cuộc chạy loạn vào đất Hoan.
Phiên bản B hàm ý Đinh Phúc An sinh trước khoảng năm 1420 — điều này không thể vì em ông là Đinh Phúc Tiên sinh năm 1477. Ngoài ra, hai phiên bản bất đồng về địa điểm, hoàn cảnh mất của cha Đinh Văn Tả và về bậc quan hệ (đời 4 hay đời 5).
Vì thiếu bằng chứng đủ vững, sau hai lần gặp mặt chính thức, các trưởng tộc đã kết luận rằng không đủ cơ sở để kết nối họ Hàm Giang với ba dòng họ kia. Cuốn lịch sử này ghi lại cả hai phiên bản mà không phán quyết. Điểm chung duy nhất của mọi nguồn : cùng dòng dõi của Đinh Điền.
Dòng họ trong thời hiện đại
Truyền thống hiếu học không hề suy giảm sau khi kỳ thi Hán học chấm dứt. Ngoài các đại khoa thời xưa — bốn tiến sĩ (Đinh Nho Công, Đinh Nho Hoàn, Đinh Nho Điển, Đinh Nhật Thận), một Giải nguyên (Đinh Nho Côn) và nhiều cử nhân, tú tài trước 1945 — dòng họ đã đóng góp, ở thời hiện đại, những nhà ngoại giao, nhà sử học và khoa học gia hàng đầu.
Gia phả ghi nhận số lượng ngày càng tăng của tiến sĩ ở đời 17 và 18, trong các ngành toán, y, hóa và kỹ thuật. Năm 1999, báo Hà Tĩnh đã viết : « Dòng họ Đinh Nho là một dòng họ khoa hoạn lớn của Hương Sơn và xứ Nghệ… Dòng họ này đã sinh ra nhiều nhân vật nổi tiếng trong khoa bảng, quan lại và binh nghiệp. »
Người Đinh Nho ngày nay phân tán khắp cả nước và ra nước ngoài. Trưởng tộc hiện nay, Đinh Hải Quân, thuộc đời 19 ; ông kế tiếp mười tám đời trưởng tộc, trong đó có Đinh Nho Quỳ (1937–2022), người chủ trì biên soạn các lần in gia phả hiện đại. Tuy nhiên, các đời từ 18 trở đi vẫn còn chưa được ghi chép đầy đủ — đó là lý do vì sao chính dòng họ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục ghi chép và kết nối các dòng nhánh.
Di tích và sự sống còn của gia phả
Nếu lịch sử dòng họ đến tay chúng ta « còn nguyên vẹn », đó là nhờ sự kết hợp của hai lòng trung thành : lòng trung thành của đá và đền, và lòng trung thành của những người sao chép đã, từ đời này sang đời khác, cứu gia phả khỏi lãng quên.
Đền thờ và mộ phần
Dòng họ có nhà thờ đại tôn ở thôn Đồng Vực, Sơn Hòa, do hai chi trưởng chung quản, và ba đền thờ phụng các phúc thần : đền Gôi Vỵ (bốn vị phúc thần và Đinh Điền), đền Cụ Hường (Đinh Nho Điển) và đền Bạch Vân (gắn với huyền thoại về Đinh Nho Công). Năm quần thể mộ phần tổ tiên còn tồn tại :
Điều hiếm thấy ở một dòng tộc lớn Việt Nam : mộ cụ bà, mộ tổ khai canh và mộ các đời tiếp theo được bảo tồn gần như nguyên vẹn qua các thế kỷ.







Trong số 82 bia Tiến sĩ tại Văn Miếu, hai tấm bia mang họ Đinh Nho — cha và con, cách nhau ba mươi năm. Bản đồ dưới đây chỉ rõ vị trí từng tấm bia.
1 Đinh Nho Công · Canh Tuất 1670 · bia số 31 · tấm thứ 3 từ phải, hàng 1 — 2 Đinh Nho Hoàn · Canh Thìn 1700 · bia số 19 · tấm thứ 1 từ phải, hàng 2
Luồng di cư & di tích trên bản đồ Việt Nam
Từ Gia Viễn (Ninh Bình) đến Sơn Hòa (Hương Sơn) : hành trình của dòng họ từ cuộc chạy loạn Mạc (1527) đến các chi phân tán ngày nay. Nhấp vào điểm đánh dấu để xem thông tin chi tiết.
Cuộc hành trình dài của Hương Yên phổ tự
Gia phả đã trải qua gần ba thế kỷ thất lạc và phục hồi — một chuỗi những tấm lòng như sau :
Mắt xích quyết định : khi bản Hương Yên phổ tự gốc cuối cùng bị thất lạc, chính bản chép tay của tiến sĩ Đinh Nhật Thận, được chi Thanh Liên gìn giữ, đã giúp tìm lại được văn bản ban đầu. Năm 2010, một phái đoàn mười thành viên chi Thanh Liên, đến dự lễ tế tổ khai canh, đã trao cho chi Hương Sơn một bản photocopy. Ký ức của một nhánh đã cứu lấy ký ức của cả gốc cội.
Cái nhìn của Đặng Thai Mai
Là hậu duệ dòng họ qua người bà Đinh Thị Hoan, giáo sư Đặng Thai Mai đã để lại về dòng Đinh Nho những dòng nhận định trầm tĩnh, sâu sắc — một điểm kết đẹp cho cuốn lịch sử này.
« Họ Đinh là một họ lớn. Nghe nói truy nguyên rất xa sẽ đến thời Đinh Tiên Hoàng, Đinh Điền… Nhà thờ còn tấm hoành phi thời Lê, thờ bà tiết nghĩa, vợ ông Đinh Nho Hoàn đỗ đầu bảng hay nhì bảng gì đó, chết trên đường sứ sang Trung Quốc…
Với chúng ta ngày nay, những chuyện dòng dõi khoa bảng, đỗ đạt, chết trên đường sứ chỉ là những trang lịch sử về phong tục một thời phong kiến đã qua. Nhưng qua các thế kỷ, con cháu họ Đinh đã thấy trong đó, ngoài niềm tự hào, còn là một truyền thống chăm học, khổ học và cái đức mà người xưa gọi là trung nghĩa, chính trực, kiên định. »
Đặng Thai Mai, Hồi ký (1985)
Lịch sử dòng họ Đinh Nho Hương Sơn (Hà Tĩnh)
Dòng họ khoa bảng, quan lại và chí sĩ yêu nước — từ thế kỷ XVI đến ngày nay
Tổng hợp từ gia phả dòng họ (các lần in 2000–2020), Lịch sử dòng họ Đinh Nho của Đinh Tú Anh (2023) và luận văn đại học của Nguyễn Văn Sô (Đại học Vinh, 2008). Sự kiện đã xác nhận và giả thuyết được phân biệt rõ ; đính chính và mâu thuẫn được nêu tường minh.
📚 Xem các tư liệu này trong Thư viện · 🌳 Khám phá cây gia phả đầy đủ
Từ gia phả đến trường chuyên
Đất nghèo nuôi chữ.
ngạn ngữ Hà Tĩnh
Từ khi Đinh Nho Công đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670), dòng họ liên tục dâng cho đất nước những người đỗ đạt: Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn (1700), Tiến sĩ Đinh Nho Điển (1875), Hoàng giáp Đinh Văn Chấp (1913)… Suốt ba thế kỷ, trên vùng đất khắc nghiệt, sự học là gia tài truyền từ đời này sang đời khác.
Di sản ấy đã được thể chế hóa. Năm 1991, tỉnh thành lập Trường Năng khiếu Hà Tĩnh — nay là Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh, một trong mười trường trung học hàng đầu Việt Nam. Trong những người gây dựng có thầy Đinh Nho Kiểu, trụ cột sáng lập các lớp chuyên Toán – Lý, được kỷ yếu nhà trường tri ân: « người trong cõi nhớ ».
Những tấm huy chương vàng Olympic Toán quốc tế của học trò Hà Tĩnh (2013, 2017) chính là người thừa kế trực tiếp của đạo học khổ luyện được các dòng họ khoa bảng — trong đó có họ Đinh Nho ở Hương Sơn — hun đúc suốt hơn ba trăm năm.