I
Strophes d'ouverture et de clôtureThu dạ lữ hoài ngâm — trích
Traduction indicative du site
Nuit d'automne silencieuse — la lueur du ciel vacille ;
derrière le store ajouré, je me verse à boire pour tromper la peine.
« Le temps du ciel et les affaires des hommes se pressent l'un l'autre » —
dans cette vie de songe, combien de fois nous est-il donné d'être en joie ?
L'homme face au paysage — devant les fleurs, la lune resplendit ;
le paysage taquine l'homme — le vent secoue les arbres.
Ce que porte mon cœur, qui saurait le lire ?
Avec qui partager, cette nuit, la lune, le vent et l'automne ?
Quatre vers d'un poème aimable, la rime s'abandonne ;
trois coupes de vin contre le chagrin de l'exil.
Devant la lampe, dans le cabinet de lecture,
le cœur se serre en terre étrangère — je songe aux anciens.
[…]
Le chagrin de la séparation noie les deux yeux ;
l'ombre du pays natal s'efface à mille lieues.
Le vin achevé, appuyé à la balustrade —
je m'éveille du songe : la nuit s'achève, et c'est l'automne.
Đinh Nhật Thận — bản nôm de l'auteur, éd. Nguyễn Tài Chất & Nguyễn Tài Cẩn (ĐHQG Hà Nội, 2008), d'après Thi Viện
II
Texte intégral — bản nôm de l’auteur (140 vers)Thu dạ lữ hoài ngâm — toàn văn
Texte vietnamien (nôm romanisé)
Đêm thu lặng, bóng giời thấp thoáng,
Cách rèm thưa chuốc chén gượng nguôi.
“Thiên thời nhân sự tương thôi”,
Kiếp chiêm bao dễ mấy hồi người ta?
Người đối cảnh, trước hoa trăng tỏ,
Cảnh trêu người, ngọn gió rung cây.
Nỗi niềm ai kẻ tỏ hay?
Cùng ai trăng gió đêm này với thu.
Thơ nhã ái bốn câu buông vận,
Rượu ly hoài ba chén làm khuây.
Trước đèn trong chốn thư trai,
Chạnh lòng đất khách, nhớ người đời xưa.
Ngoài Hương thuỷ tiếng ngư văng vẳng,
Thuyền từ đâu chèo thẳng biên giang?
Lờ mờ đêm nguyệt trời sương,
Thuyền ai tưởng khách non Hàn, lại không!
Khúc ngư thuỷ nhớ ông Đại Đỗ,
Buộc con thuyền lòng cũ bơ vơ.
Hứng thu để tám bài thơ,
Xui người đất khách ngẩn ngơ tình làng.
Xưa ta đi liễu đang thanh tế,
Chim hoàng anh mới kể ba câu.
Bằng nay cúc đã hoa thâu,
Liễu kia cũng nghĩ âu sầu vì ve.
Khi ta đi đào khoe tiếu kiểm,
Gió đông phong mới điểm ba hàng.
Bằng nay lan đã chồi sương,
Đào non nghĩ cũng võ vàng vì thu.
Làm chi vậy buồn rầu đất khách,
Ngày quán đồng mượn thích làm khuây.
Có đêm nương bóng hồi tây,
Tiếng sương khóc lá, hơi bay gọi trùng.
Làm chi vậy lạnh lùng quán lữ,
Năm, sương yên hết nửa đi rồi.
Có đêm ngồi nhẫn thư trai,
Gió lay bên trúc, nguyệt cài trên lương.
Nào có phải như chàng ném bút,
Vì vua mà đồng mác cho cam.
Luống đem thân thế cát lầm,
Thấy ngồi hổ mắt, nghe nằm thẹn tai.
Nào có phải như ai vâng hịch,
Vì thân mà xa cách cho xong.
Bỗng không cách địa binh bồng,
Trông mây lại nhớ, xem bông lại buồn.
Ngày nay đứng trông miền bể rộng,
Một cánh buồm gióng thẳng về cồn.
Lòng quê đâu đã cuồn cuồn,
Phút theo buồm vượt máy ngàn sóng khơi.
Ngày nay đứng trông nơi non thẳm,
Một làn mây sớm ngắm trên không.
Lòng quê đâu đã bồng bồng,
Phút theo mây kéo mấy trùng non xa.
Trông tin nhạn biết là đâu tá,
Tâm tình này ai tả cho nên.
Chuông chùa Diệu Đế cho rền,
Trống vang cửa bể, súng rên thành vàng.
Sông quạnh quẽ ruột càng quằn quại,
Cảnh đìu hiu dạ lại đìu hiu.
Lữ du ai chẳng tiêu điều,
Tiếng chày trong xóm tiếng chèo ngoài sông.
Than đất khách não nùng tâm sự,
Thương người quê tình tự bây giờ.
Đèn khuya cơn tỏ cơn mờ,
Gẫm tình che quạt luống chờ bóng trăng.
Năm canh những mơ màng trên gối,
Mảnh tình riêng biết nói cùng ai.
Thương thay đêm vắng không người,
Ngủ thời bướm báo, dậy thời gà kêu.
Hoặc có lúc ban chiều trong khổn,
Bước xuống thềm lại muốn lên lầu.
Phút nghe con én kêu sầu,
Lược rầu tóc chải, gương rầu mặt soi.
Hoặc có lúc đưa thoi đêm tối,
Gọi con tì vừa tới điểm đăng.
Phút nghe tiếng nhạn khơi chừng,
Máy rời chân đạp, thoi ngừng tay đưa.
Thương thay có đêm chờ nửa gối,
Đêm gần qua chẳng thấy thư về.
Gác thoi ra đứng bên hè,
Tai nghe tiếng dế rè rè khóc sương.
Trông chẳng thấy, chán chường than thở,
Đoái phòng khuê muốn trở gót giầy.
Gà ai eo óc hồi tây,
Gẫm tình tựa gối liền tay khêu đèn.
Thương thay có ngày nhìn sáu khắc,
Ngày gần tàn chẳng thấy thư sang.
Xuống thềm ra đứng bên đàng,
Mày sầu lá liễu hàng hàng khóc ve.
Trông chẳng thấy lại về đứng đợi,
Đoài cầm hiên tay gợi ngón đàn.
Bướm đâu trêu cợt bình lơn,
Buồn tình mang dép ra vườn hái hoa.
Rày hẳn bảo giời đà mát mẻ,
Lương nhân ta có dễ gần về.
Biết đâu đường thế nhiêu khê,
Dặm ngàn hồ dễ đi về cho năng.
Rày hẳn nói mình chừng lâu ở,
Ôm khâm trù hay đã có người.
Phong lưu vốn đã quen rồi,
Phồn hoa lịch sự lại mùi Tràng An.
Nếu chẳng thể bàn hoàn chi mãi,
Hết xuân rồi hạ lại sang thu.
Lầu hồng cung cấm ấy ru,
Anh hùng lại với trượng phu ai từ?
Như thế ấy bây giờ ai biết,
Trông yên ba khôn xiết dạ sâu.
Há còn trai trẻ chi đâu,
Phong lưu thói cũ giang hồ lối xưa.
Cảnh du lữ câu thơ thổn thức,
Bóng hương quan trước mắt mơ màng.
Non sông khách có biết chăng,
Vẫn tình thì nhớ nhưng đường thì khơi.
Tuy rằng nói đã người tần tảo,
Trên tôn đường trọng đạo tề gia.
Rau khe nước suối cũng là,
Mình xa chẳng biết ở nhà làm sao.
Duy cho trẻ đứa nào đứa ấy,
Trong gia đình đều thấy yên vui.
Lúc đi trẻ mới hay cười,
Tóc răng nay đã ra người lớn khôn.
Và thằng cháu giời thương cũng khá,
Tuổi năm nay chừng đã trưởng thành.
Phúc nhà mừng trộm cho anh,
Năm nay biết đã học hành cùng ai.
Bạn đèn sách một hai tri thức,
Mùi lan chi sực nức một nhà.
Từ phen chuốc chén quan hà,
Vị Thành lúc ấy rồi mà Dương Quan.
Sau chẳng biết ngoài miền bắc động,
Hai anh ta có chóng hồi hương?
Thương ôi đồng bệnh cùng thương,
Một Tần lại một Tiêu Tương một giời.
Đến bao giờ cùng ngồi kể chuyện,
Kể hương tình cho đến khách trung.
Mà nay nào nguyệt nào phong,
Nào thi nào tửu biết cùng ai hay.
Sầu ly biệt tuôn đầy hai mắt,
Bóng hương quan xa khuất dặm ngàn.
Rượu rồi ngồi dựa lan can,
Chiêm bao tỉnh giấc đêm tàn về thu.
Đinh Nhật Thận — bản nôm de l'auteur, éd. Nguyễn Tài Chất & Nguyễn Tài Cẩn (ĐHQG Hà Nội, 2008), d'après Thi Viện