丁族千秋畱玉彩

Đinh tộc thiên thu lưu ngọc thái — « Dòng họ Đinh, ngàn thu giữ mãi sắc ngọc »

Lịch sử dòng họ Đinh Nho Hương Sơn

Dòng họ khoa bảng, quan lại và chí sĩ yêu nước,
từ thế kỷ XVI đến ngày nay

Sơn Hòa · Hương Sơn · Hà Tĩnh · ~1543 → 2023

Lời mở đầu

Gần năm thế kỷ, hai mươi đời

Dòng họ Đinh Nho định cư tại An Ấp, huyện Hương Sơn (nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) vào khoảng 1543–1546. Tính từ tổ khai canh đến nay đã gần năm trăm năm và hai mươi đến hai mươi mốt đời, con cháu ngày nay tản mác khắp trong nước và ra ngoài biên giới.

Điều làm dòng họ này nổi bật, hơn cả những danh hiệu khoa bảng, là sự liên tục của ký ức thành văn. Trải qua những trận hỏa hoạn, những cuộc di dời và cơn biến loạn của Cải cách ruộng đất, bộ gia phả vẫn sống sót — được sao chép, phiên dịch, phục hồi qua nhiều bàn tay suốt ba thế kỷ. Chính trên nền ký ức ấy, và công sức khôi phục gia phả kèm theo, mà câu chuyện sau đây được dựng lên.

Phương pháp và nguồn tài liệu

Bài viết này dựa vào ba nguồn chính : gia phả dòng họ năm 2000 (tái bản 2010 và 2020), lịch sử dòng họ của Đinh Tú Anh (2023), và luận văn đại học của Nguyễn Văn Sô (Trường Đại học Vinh, 2008).

Trong đó, sự kiện đã xác nhận được phân biệt rõ với giả thuyết có cơ sở; những chỗ còn thiếu được ghi nhận chứ không bịa ra ; những đính chính được nêu tường minh ; và khi các nguồn mâu thuẫn nhau (trường hợp nhánh Hàm Giang), cả hai phiên bản đều được trình bày và mâu thuẫn được để ngỏ.

Mục lục

Mười một chương

  1. Nguồn gốc — từ Đinh Điền đến cuộc chạy loạn nhà MạcCụ bà Hoàng Quý Thị và bốn anh em (thế kỷ XVI)
  2. Một mạch đơn — bảy đời liền tiếpDòng chính từ tổ khai canh đến Đinh Nho Công
  3. Cất cánh — Đinh Nho Công & Đinh Nho HoànÔng đỗ đầu, tiến sĩ đi sứ, bà Phan Thị Viên
  4. Bốn chi từ thế hệ thứ 7Hương Sơn (hai ngành), Cương Gián, Thanh Liên
  5. Nhà thơ Đinh Nhật Thận« Thu dạ lữ hoài ngâm »
  6. Chi khanh đạt — hậu duệ của Đinh Nho TĩnhTiến sĩ Đinh Nho Điển, Tuần phủ Đinh Nho Quang, dòng họ Đặng
  7. Chi thứ và những chí sĩĐinh Doãn Tế, Đinh Nho Bộc, nhà thơ Quỳnh Dao
  8. Nhánh Nghi Long — dòng Đinh VănBốn đời đỗ đạt; Hòa thượng Thích Minh Châu
  9. Các nhánh khác — Đức Thủy, Trung Lương, Hàm GiangMối liên hệ được xác nhận và còn tranh luận
  10. Dòng họ trong thời hiện đạiNhà ngoại giao, nhà sử học, nhà khoa học, thế hệ mới
  11. Di tích và sự lưu truyền gia phảĐền, mộ, và sự sống còn của Hương Yên phổ tự

Sau phần kể: một cách đọc — vốn liếng chuyển hóa ra sao — và vĩ thanh của Đặng Thai Mai.

Dấu mốc — gần năm thế kỷ trong nháy mắt
  1. 1527Chạy loạn Mạc: bốn anh em rời Gia Viễn (Ninh Bình)
  2. ≈ 1543Đinh Phúc Diên khai canh ở An Ấp (Hương Sơn)
  3. 1670Đinh Nho Công, tiến sĩ đầu tiên — bia Văn Miếu
  4. 1700Đinh Nho Hoàn, Hoàng giáp — tấm bia thứ hai của dòng họ
  5. 1715–1716Đi sứ Bắc Kinh; Đinh Nho Hoàn mất trên đường sứ; tiết phụ Phan Thị Viên tuẫn tiết
  6. 1838Đinh Nhật Thận đỗ tiến sĩ — tác giả Thu dạ lữ hoài ngâm
  7. 1884Đinh Nho Điển, tiến sĩ tuyệt thực, qua đời
  8. 2013Chi Cương Gián tìm lại gốc tổ sau ba thế kỷ
  9. 2023Xuất bản lịch sử dòng họ; khánh thành Lăng Trai Sơn
Chương I · Thế kỷ XVI

Nguồn gốc : từ Đinh Điền đến cuộc chạy loạn nhà Mạc

Theo truyền thống dòng họ, nguồn gốc xa xưa được truy lên đến Đinh Điền (924–979), một trong bốn danh tướng thân tín của vua Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Tiên Hoàng), người sáng lập triều đại đầu tiên của quốc gia. Quê tổ ở Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Mối quan hệ họ hàng xa xôi này, được chia sẻ bởi tất cả các dòng Đinh có liên quan, được lưu truyền qua truyền khẩu và những câu đối chữ Hán còn lưu giữ trong các đền.

Cầu đá ba nhịp bắc qua hồ sen, cờ đỏ dọc hai bên, cổng mái ngói và núi đá vôi phía sau.
Cầu và cổng khu di tích Hoa Lư, kinh đô Đại Cồ Việt thế kỷ X. Chính ở Gia Viễn, cũng thuộc tỉnh Ninh Bình, tương truyền là nơi phát tích của dòng họ.Nguồn: Kien1980v, domaine public — Wikimedia Commons

Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Bốn anh em họ Đinh, mà gia phả chép là con cháu của Đinh Điền, đang phụng sự nhà Lê, bỏ trốn cùng gia quyến và người mẹ già — cụ bà Hoàng Quý Thị. Họ vào châu Hoan — vùng đất Nghệ xưa (nay là các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh) — và tạm dừng chân ở thôn Thu Lũng, gần một cái đầm hình bán nguyệt (nay là Nghi Thu, Cửa Lò).

Cụ bà mất và các anh em chia tay

Một ngày tại đó, trong lúc giặt giũ, cụ bà Hoàng Quý Thị chẳng may bị chết đuối trong đầm. Đêm sau khi chôn cất, tương truyền, mưa to gió lớn đã cuốn đất cát về lấp lên mộ thành một gò đất lớn : dân làng thấy vậy cho là ngôi mộ được Trời đào sẵn và coi chỗ đó là linh thiêng. Sau khi mãn tang, các anh em thấy không nên ở cùng nhau và chia nhau về các vùng :

Anh cả

Đinh Phúc Diên → Hương Sơn

Đưa gia đình đến An Ấp (Hương Sơn) ; tổ khai canh của dòng họ Đinh Nho, đối tượng của cuốn lịch sử này.

Người anh thứ hai

Đinh Phúc Tiên → Nghi Long

Ở lại trông coi mộ mẹ ; tổ của họ Đinh Văn ở Kim Khê (Nghi Long, Nghi Lộc).

Người anh thứ ba

Đinh Phúc … → Đức Thủy

Tên húy nay không còn biết. Lập nghiệp ở Đông Khê (nay là Đức Thủy, Đức Thọ) ; tổ của họ Đinh Trọng / Đinh Văn ở Đức Thủy.

Người em út

Đinh Phúc An → ra Bắc

Trở ra Bắc « dò hỏi tin tức » cho các anh. Việc gắn kết ông với họ Hàm Giang (Hải Dương) được một phía đưa ra nhưng vẫn chưa được chứng minh (xem chương IX).

Điều chắc chắn & giả thuyết

Sự có mặt của cụ bà và bốn anh em, cũng như cuộc phân tán về Hương Sơn, Nghi Long và Đức Thủy, được xác nhận vững chắc : ba dòng họ đó công nhận lẫn nhau, qua lại thăm viếng và cùng tế lễ tổ tiên. Mộ cụ bà (nay ở nghĩa địa Kỳ Ông Trường, Nghi Long) và mộ người anh thứ hai được chung tay chăm sóc, phía trên dựng tấm bia ghi « bốn anh em, con trai của cụ bà ».

Tuy nhiên, gia phả Hương Sơn chỉ nói « nhiều anh em » mà không nêu số lượng hay tên húy : chính gia phả Nghi Long mới cung cấp câu chuyện chi tiết về bốn anh em. Các nguồn thậm chí còn bất đồng về quê gốc : « Gia Viễn » theo Đinh Nho, « từ Bắc » theo Đinh Văn ở Nghi Long.

Người anh cả, Đinh Phúc Diên, đưa gia đình đến An Ấp, Hương Sơn, khoảng 1543–1546, và trở thành tổ khai canh của dòng họ Đinh Nho. Gia phả không ghi ngày sinh, ngày mất, chỉ ghi tuổi thọ : chín mươi ba tuổi. Vì em là Đinh Phúc Tiên sinh năm 1477, người ta ước tính Đinh Phúc Diên sinh khoảng trước 1475 — như vậy ông đến An Ấp khi đã khoảng bảy mươi tuổi, đã có con cháu đi cùng. Ông mang hàm Tả Hiệu Điểm, Công Tây Hầu, nhị phẩm tòng võ giai — thang quan chế chia mỗi phẩm trong chín phẩm thành hàng chánh và hàng tòng. Văn tế ở nhà thờ họ đến nay vẫn xướng đủ danh hiệu ấy.

Chương II · đời 1 đến 7

Một mạch đơn : bảy đời liền tiếpđộc đinh — « mỗi đời chỉ một người con trai »

Suốt bảy đời, dòng họ chỉ gắng gượng trên một sợi dây : từ Phúc Diên đến Nho Công, mỗi vị tổ đều là con trai một. Đây là nét đặc biệt nhất của thời kỳ đầu, và là điều làm cho sự phát triển tiếp sau càng trở nên đáng kinh ngạc hơn.

Trang bìa một cuốn gia phả chép tay, chữ Hán lớn viết bằng bút lông và một dấu son đỏ.
Trang bìa một cuốn gia phả chép tay — 阮族家譜, « gia phả họ Nguyễn », sao lại năm 1932. Không phải gia phả của dòng họ ta, nhưng đúng là hình thức của nó: một bàn tay, một cây bút, và cái mạch được tiếp.Nguồn: Famille Nguyễn Đông Tác, domaine public — Wikimedia Commons
Dòng chính, từng đời một
1 · Phúc Diên 2 · Phúc Trường 3 · Phúc Bảo 4 · Chính Tính 5 · Phúc Khánh 6 · Hữu Luân 7 · Nho Công ✦

Từ đầu, tất cả đều coi trọng việc học. Đinh Phúc Trường (đời 2) đỗ tứ trường lúc hai mươi bốn tuổi ; Đinh Phúc Bảo (đời 3), cũng đỗ nhưng không qua được kỳ thi tiếp, chuyển sang nghề thuốc ; Đinh Chính TínhĐinh Phúc Khánh (đời 4 và 5) cũng vượt qua kỳ thi đó từ khi còn trẻ.

Đời thứ sáu là bước ngoặt. Đinh Hữu Luân (1602–1676) đỗ tứ trường lúc mười sáu tuổi (1617) và vào đội « văn thần » của phủ lúc mười chín tuổi (1620). Được điều đi dẹp loạn ở miền Nam, ông sau đó làm Thẩm tra huyện Đông Ngạn. Chính ông đã mở đường cho con trai mình.

Một lưu ý về « dòng chính độc đinh »

Gia phả dòng họ Đinh ở Trung Lương gợi ý rằng khoảng đời thứ 3, một người con cháu đã tách ra đến Can Lộc, lập nên họ Đinh ở Trung Lương. Nếu đúng vậy, dòng họ đã không thực sự « độc đinh » — Hương Yên phổ tự đơn giản là đã bỏ qua nhánh phân chi sớm này. Câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ (xem chương IX).

Chương III · đời 7 & 8

Cất cánh : Đinh Nho Công và sự ra đời của một dòng khoa bảng

Chính từ đời thứ bảy mà dòng họ có được cái tên của mình : Đinh Nho Công vừa là người đỗ đầu của dòng họ, vừa là người phá vỡ thế độc đinh. Bốn chi lịch sử của họ đều xuất phát từ ông.

Dãy nhà dài mái ngói, cột gỗ và đèn lồng đỏ, bên một sân gạch.
Một dãy nhà ở Văn Miếu Hà Nội. Dưới những mái như thế này là 82 bia tiến sĩ — bia Đinh Nho Công được dựng sau năm 1670, bia con trai ông ba mươi năm sau.Nguồn: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0 — Wikimedia Commons

Đinh Nho Công (1637–1695) — vị tiến sĩ đầu tiên

Thuở nhỏ ham học, đỗ tứ trường lúc mười bốn tuổi, nhưng Đinh Nho Công phải bỏ học vì nghèo, trở về làm ruộng. Theo truyền thuyết dân gian — vẫn còn lưu truyền ở các làng bờ tả ngạn sông Ngàn Phố — một sáng khi đang cày, có một cụ bà tóc bạc hiện ra giục ông trở lại trường học. Ông lên Thăng Long (Hà Nội), kết bạn thân với một học trò xuất sắc của Quốc Tử Giám, một người họ Trần. Trước ngày thi, tương truyền người bạn ấy báo mộng báo cái chết của mình — và hứa sẽ phù hộ ông trong kỳ thi, với điều kiện ông sau này lập một bàn thờ nơi đám mây trắng tụ lại.

Đinh Nho Công đỗ tiến sĩ (đệ tam giáp đồng tiến sĩ) khoa Canh Tuất, năm 1670, dưới triều Lê Huyền Tông. Tên ông ngày nay vẫn còn khắc trên bia tiến sĩ ở Văn Miếu — Quốc Tử Giám Hà Nội. Nổi tiếng thanh liêm, ông từng làm Giám sát Ngự sử, rồi Thiêm Đô Ngự sử. Vua ban câu khen bốn chữ « Ngôn ngữ phong lăng » (lời nói sắc bén, bạo dạn). Sau khi mất, dưới triều Cảnh Hưng, ông được phong thần với danh hiệu 英毅大王 Anh Nghị Đại Vương, rồi được phong lại dưới triều Nguyễn.

Để giữ lời hứa, ông cho dựng một ngôi đền trên gò Cồn Mai thờ người bạn đã khuất : đền Bạch Vân (hay đền Thịnh Xá), truyền thuyết về đó vẫn còn được kể đến. Đinh Nho Công có mười hai người con, trong đó sáu trai — bốn người trong số đó là tổ của bốn chi dòng họ.

Đinh Nho Hoàn (1671–1716) — vị Hoàng giáp đi sứ

Người con thứ ba của Đinh Nho Công, Đinh Nho Hoàn (hiệu Mặc Trai, tự Tồn Phác), mồ côi mẹ lúc ba tuổi. Ba mươi tuổi ta (hai mươi tám tuổi Tây), ông đỗ tiến sĩ hạng Hoàng giáp khoa Canh Thìn, năm 1700, xếp thứ tư trong số mười chín người đỗ (thứ ba trong hàng Hoàng giáp), xếp thứ ba của khóa ; tên ông liền kề tên cha trên bia Văn Miếu. Cha con đều đỗ tiến sĩ : vinh dự hiếm có, sánh với dòng Đinh Văn ở Nghi Long.

Được cử làm Đốc trấn Cao Bằng năm 1704, ông nổi tiếng với một nền cai trị khai sáng : sửa đường sá, phá đá ngầm trên sông Bằng Giang để thông thuyền bè, giảm thuế và đẩy nhanh thủ tục hải quan để khuyến khích thương mại. Các thương nhân Trung Hoa, mang ơn, dựng trước hội quán của họ một tấm bia mừng công đức — « Đức chính bia », bản văn còn lưu lại đến ngày nay : « Chúng tôi thấy lòng quan sáng như gương, trong như tranh… chưa bao giờ có quan nào thương xót các thương nhân như ngài. » Tại đây ông cũng soạn Hoán tỉnh châu dân từ (148 câu nôm khuyến dân làm lành) và Cao Bằng thập thủ (mười bài thơ tức cảnh Cao Bằng).

Được triệu về kinh khoảng năm 1710 làm Thượng Bảo Tự khanh, coi ấn tín tại Hàn lâm viện, ông được cử năm 1715 làm Phó sứ trong đoàn cống sứ sang triều Thanh. Đại Việt sử ký tục biên đã ghi rõ chuyến sứ này. Ông không đi một mình : sứ bộ mùa xuân năm 1715 gồm Chánh sứ Nguyễn Công Cơ (Hộ bộ Tả thị lang), Thái bộc tự khanh Lê Anh Tuấn, và hai Phó sứ — ông Hoàn, người coi ấn tín, và Nguyễn Mậu Áng. Chưa từng tìm được sổ ghi đường đi của chuyến sứ ấy : vì vậy mọi điều biết về lúc cuối của ông đều đến từ lời truyền lại và vài dòng vắn tắt trong chính sử. Nhưng ông lâm bệnh khi mới vào địa phận Hà Bắc và mất dọc đường, ở ngoài thành Yên Kinh (Bắc Kinh), vào ngày 28 tháng Chạp âm lịch năm Ất Mùi (đầu 1716), thọ 46 tuổi, không kịp trở về. Nghe tin ông mất, vua Khang Hy và vua Lê đều làm điếu văn ; triều đình truy tặng, đời Cảnh Hưng tấn phong Đắc Đạt Đại vương.

Ngày âm lịch ấy nằm vắt qua hai năm dương lịch: có tài liệu ghi 1715, có tài liệu ghi 1716. Trang này lấy 1716.

銀散滿城遊子月,
金吹千里故人風。

Ngân tán mãn thành du tử nguyệt,
Kim xuy thiên lý cố nhân phong.

« Trăng kẻ tha hương rải bạc khắp thành ;
gió người cố tri thổi vàng ngàn dặm. »

Đinh Nho Hoàn, « Gặp Khâu Đinh Thần người Phúc Kiến đến thăm » — Mặc Ông sứ tập

Vua Khang Hy xúc động, cho ướp thi hài và đưa về nước theo đoàn sứ, sai quan bộ Lễ đến làm lễ điếu trọng thể : « Ông đã hoàn thành sứ mệnh của vua mình… Sao lại từ biệt cõi đời sớm vậy ? Lòng ta đau xót không sao kể xiết. » Tại triều Lê, ông được truy thăng Lễ Bộ Tả Thị lang, rồi phong thần Đắc Đạt Đại Vương.

Từ những bài thơ ông làm dọc đường, con rể là tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường đã sưu tầm lại được những bài còn lại — thành Mặc Ông sứ tập, hiện còn 130 bài thơ chữ Hán — con số của Ngô Đức Thọ, người làm bản in năm 2009; báo chí ghi 113 hoặc 117 bài, phần nôm đã thất lạc. Năm 2009, nhà ngoại giao Đinh Nho Liêm (đời 16) cùng nhà ngữ văn Ngô Đức Thọ xuất bản bản dịch có chú thích — Mặc Trai sứ tập. Câu gia huấn mà Đinh Nho Hoàn để lại cho con cháu tóm tắt tinh thần của dòng họ :

« Tiến vi nghĩa sĩ, thoái vi lương nông » — Ra làm quan thì xứng là người sĩ phu có nghĩa ; lui về thì xứng là người nông dân tốt.

Phan Thị Viên — bà Tiết Phụ, thần của đền Gôi Vị

Không có con trai, Đinh Nho Hoàn nhận một người con thừa tự. Người vợ cả của ông là bà họ , húy Vệ, người xã Hữu Bằng; mộ bà ở Áng Phần, bên cạnh mộ chồng. Nhưng ký ức dòng họ gắn liền với người vợ kế — Phan Thị Viên, người Do Lễ (Hưng Nguyên). Câu chuyện về bà như trong tiểu thuyết : cha bà, một viên chức bị vu oan, đã được Đinh Nho Công tha khi ông đi thanh tra nhà ngục với tư cách ngự sử ; trước khi mất, cha bà đã ký thác hy vọng rằng con gái có ngày đền đáp ơn đó. Nhiều năm sau, theo cơ duyên mà tương truyền là do trời định, Đinh Nho Hoàn bước vào căn lều nơi hai mẹ con tá túc — và cưới bà.

Lấy chồng năm mười sáu tuổi, Phan Thị Viên thông chữ, giỏi thơ, đủ tứ đức. Khi chồng lên đường đi sứ, bà tiễn đến trạm Lã Côi và trao cho ông, một mạch, mười bài thơ — « để dọc đường ngó lại, như có em đi theo ». Đáp lại, ông cởi áo đưa cho bà. Ba trong mười bài đó vẫn còn trong gia phả.

« Ngày Đinh Nho Hoàn mất, bà còn trẻ ; nhưng sau khi đưa linh cữu chồng về và tang lễ xong, bà tự vẫn. »

Hồi ký của giáo sư Đặng Thai Mai, về bà Tiết Phụ

Vì hành động tiết nghĩa ấy, triều Lê ban tấm biển « Tiết hạnh khả phong » và bà được phụng thờ là « bà Tiết Phụ / Tiết Nghĩa ». Theo Đặng Thai Mai, bà là bạn thân của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm — điều không thể xảy ra về niên đại (Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705, mới mười một tuổi năm 1716) : điều chắc chắn là nữ sĩ đã dựa vào cuộc đời bà để viết « An Ấp liệt nữ ».

Bốn vị phúc thần của đền Gôi Vị

Đền Gôi Vị (đền bà Tiết Phụ) thờ bốn « phúc thần » của dòng họ, cùng trong một vòng gia quyến : Đinh Nho Công (người cha), Đinh Nho Hoàn (người con), Phan Thị Viên (vợ ông) và Đinh Nho Côn (người con khác, tổ chi Thanh Liên). Đền cũng thờ tổ xa Đinh Điền.

Chương IV · từ đời thứ 8

Bốn chi từ thế hệ thứ 7

Trong sáu con trai của Đinh Nho Công, bốn người có con nối dõi và lập nên bốn chi của dòng họ. (Đinh Nho Huân, tài giỏi nhưng mất sớm, và Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn, không con trai, đều không có hậu duệ trực tiếp.)

Chi trưởng · mã A · Hương Sơn

Đinh Nho Trạch (1656–1711)

Con trưởng của vợ cả. Đỗ cử nhân năm mười tám tuổi ; đương thời được ví như « tiên ông ». Hậu duệ mang mã A trong gia phả.

Chi thứ · mã B · Hương Sơn

Đinh Nho Thận

Con trưởng của vợ thứ. Hậu duệ mang mã B. Hai chi Hương Sơn cùng tế lễ tổ tiên tại nhà thờ chung.

Chi ba · Cương Gián

Đinh Nho Thường

Tri huyện. Chuyển đến Can Lộc rồi Cương Gián (Nghi Xuân) ; tổ họ Đinh ở Cương Gián — « chi tìm lại » (xem dưới).

Chi tư · Thanh Liên

Đinh Nho Côn

Đỗ Giải nguyên, làm tướng (Tổng binh, Hương Nghĩa Hầu). Định cư ở Thanh Liên (Thanh Chương) ; chắt của ông là nhà thơ Đinh Nhật Thận (chương V).

Hai chi trưởng (A và B) ở lại Hương Sơn và ngày nay vẫn còn chung nhà thờ của thủy tổ ở thôn Đồng Vực (Sơn Hòa). Một phần con cháu sau đó tản ra Sơn Châu và Sơn Tân (Xa Lang).

Chi tìm lại ở Cương Gián

Câu chuyện nối lại quan hệ với Cương Gián là một cuộc điều tra thực sự, do Đinh Quang Tích, con cháu dòng họ đó, tiến hành. Gia phả Cương Gián dừng lại ở đời thứ 7 — tiến sĩ Đinh Nho Công — rồi lại tiếp tục với một « tổ khai canh » chỉ còn biết danh hiệu tôn kính là Đinh Đại Lang, không còn tên húy. Ông là ai ?

Manh mối quyết định là người con cháu Đinh Nguyễn Đôn, mà sách sử chính thức ghi ông đỗ hương cống năm 1759 và làm quan ở Quảng Bình. Tính ngược từ người chắt đó, có thể ước tính Đinh Đại Lang sinh khoảng 1678–1680. Trong số tất cả các con trai của Đinh Nho Công ra đi lập nghiệp nơi xa, chỉ có một người đúng độ tuổi đó và chưa có dòng dõi được xác định : Đinh Nho Thường. Suy luận dẫn đến kết luận : Đinh Đại Lang chính là Đinh Nho Thường, em của Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn.

Sự nhận họ qua hai bước

Sau một hành trình dài (so sánh gia phả Cương Gián và Trung Lương, không tìm ra mối liên hệ trực tiếp), Đinh Quang Tích tìm thấy trang web của họ Đinh Việt Nam vào tháng 8/2011 và liên lạc với trưởng tộc Đinh Nho Quỳ. Khi đối chiếu hai gia phả, sự trùng khớp được mô tả là « rùng mình » : bảy đời đầu khớp nhau hoàn toàn, cả tên húy, chức tước và vợ. Lễ nhận họ chính thức diễn ra vào Rằm tháng 7/2013, và lễ chép lại gia phả ở thôn Song Long ngày 14/4/2022. Một điều bí ẩn vẫn còn đó : tên mà tổ đổi khi rời Hương Sơn vẫn chưa xác định được — đây là khoảng trống mà các nguồn thừa nhận.

Chi Thanh Liên

Người con thứ sáu, Đinh Nho Côn, vừa là nho sĩ vừa là người cầm quân, định cư ở Thanh Liên. Điều đáng chú ý trong gia phả chi này : dưới thời Pháp thuộc, sổ bộ ghi dòng họ là Nguyễn ; mãi đến triều Minh Mạng (1820–1841) tên Đinh mới được chính thức khôi phục. Chính người chắt của Đinh Nho Côn, nhà thơ Đinh Nhật Thận, khi đến nhận họ ở Hương Sơn, đã sao chép lại Hương Yên phổ tự — qua đó gián tiếp cứu lấy gia phả gốc (xem chương XI).

Gia phả cho biết một nguyên do mà ký ức dòng họ thường nói giảm thành chuyện « ra ở riêng ». Được chúa Trịnh Doanh cử làm Đốc lĩnh quân Nghệ An, đóng ở Kỳ Hoa, và được phong tước Hương Nghĩa hầu sau khi dẹp loạn, Đinh Nho Côn đánh dẹp cuộc khởi nghĩa lớn của Lê Duy Mật (1738–1769). Thế mà người anh của ông lại theo phe khởi nghĩa. Mâu thuẫn gay gắt đến mức, theo gia phả, « hai anh em không thể ở chung được nữa » : chính khi ấy Đinh Nho Côn rời quê tổ vào Cát Văn, huyện Thanh Chương. Vậy cơn khủng hoảng chính trị thế kỷ XVIII không chỉ chia đôi vương quốc — nó rạn nứt tới cả tình anh em, và việc phân chi ở đây có nguyên nhân chính trị không kém gì nguyên nhân nhân khẩu.

Chương V · đời 11 · chi Thanh Liên

Nhà thơ Đinh Nhật Thậnvà « Thu dạ lữ hoài ngâm »

Đinh Nhật Thận (1815–1866), tự Tử Úy (có nơi chép Tử Quý), hiệu Bạch Mao Am, chắt của Đinh Nho Côn, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất, năm 1838, dưới triều Minh Mạng. Là người phóng khoáng và độc lập, ông sớm ưa y thuật, thi ca và bạn bè hơn công danh : sau lần bị cách chức, ông từ chối phục chức năm 1843.

Là bạn thân của Cao Bá Quát và Nguyễn Hàm Ninh, ông bị liên lụy trong cuộc nổi dậy Mỹ Lương và bị bắt. Trân trọng tài năng xuất chúng của ông, vua Tự Đức giữ ông lại ở triều dạy học cho các hoàng tử — một thứ lao ngục vàng son mà từ đó ra đời kiệt tác của ông. Một đêm thu, trong cô đơn, ông viết liền mạch Thu dạ lữ hoài ngâm (« Bài ngâm đêm thu của người lữ khách »). Tác phẩm đến tai vua, làm xúc động đến mức nhà vua đã tha tội cho nhà thơ.

Đặc biệt về hình thức, tác phẩm có 136 câu chữ Hán nhưng theo thể song thất lục bát thuần Việt. Luận văn đại học năm 2008 xếp nó vào hàng bốn bài ngâm khúc hay nhất của văn học Việt Nam cổ điển, cùng với Kim Vân Kiều, Chinh phụ ngâmCung oán ngâm khúc.

Đính chính · năm mất : 1866, không phải 1886

Nhiều nguồn thứ cấp (bài viết trên mạng chép lại nhau) ghi 1886 là năm mất. Đây là lỗi phổ biến. Gia phả dòng họ, lịch sử năm 2023 và luận văn năm 2008 đều thống nhất 1815–1866. Cuốn lịch sử này ghi nhận 1866.

Chương VI · đời 13–14

Chi khanh đạt : hậu duệ của Đinh Nho Tĩnh

Cuối thế kỷ XIX, một ngành đạt đỉnh cao mới. Đinh Nho Tĩnh (đời 13, tự Hy Tăng), quan Thái bộc Tự khanh tam phẩm, có bốn người con, trong đó hai con trai làm quan và một người con gái sẽ mở ra một mối thông gia lừng lẫy.

Đinh Nho Điển (1848–1884) — vị tiến sĩ tự tuyệt thực

Đỗ cử nhân năm hai mươi mốt tuổi (1868), rồi tiến sĩ khoa Ất Hợi, năm 1875 (thứ 3 trong mười một người đỗ), Đinh Nho Điển phụng sự bốn đời vua Nguyễn. Ông từng làm tri huyện Nghĩa Hưng, Hồng Lô Tự khanh, Giảng quan Bộ Hình, rồi biên tu ở Quốc sử quán, tham gia hiệu đính Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bộ chính sử của triều đại.

Sau các hiệp ước bảo hộ 1883–1884 đặt dấu ấn sự thống trị của Pháp, vị nho sĩ trung thành này chọn con đường bất hợp tác : ông tuyệt thực mà chết, năm ba mươi chín tuổi, không chịu nổi cảnh nước mất. Mười lăm năm sau, năm 1899, vua Thành Thái cho lập đền thờ — đền Cụ Hường, trên cổng đề bốn chữ 敕賜立祠 (« Vâng chiếu lập đền »). Đền được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2023.

Người cháu nội của ông, Đinh Nho Hân, theo lịch sử gia đình, là một trong những tiến sĩ hóa học đầu tiên của Đông Dương, tốt nghiệp tại Pháp — nhưng ông mất sớm.

Đinh Nho Quang (1831–1907) — vị tuần phủ

Anh cả của Đinh Nho Điển, Đinh Nho Quang (hiệu Bảo Hiên), đỗ cử nhân và lên đến chức Tuần phủ (tổng đốc tỉnh), rồi Tả Thị lang Bộ Hình. Chính ông, năm 1898, đã viết lại một lần nữa bộ Hương Yên phổ tự (xem chương XI).

Đinh Thị Hoan — người mẹ của một dòng dõi trí thức

Em gái của Đinh Nho Điển, Đinh Thị Hoan, người phụ nữ có học, thông minh và yêu nước, nổi tiếng với những câu đáp sắc bén trước các quan lại bán nước và sĩ quan Pháp, đã kết duyên với cử nhân Đặng Thai Giai. Từ cuộc hôn nhân này xuất phát một dòng dõi tưới nguồn cho toàn bộ lịch sử trí tuệ và chính trị Việt Nam hiện đại :

Dòng họ Đặng, xuất phát từ Đinh Thị Hoan
Đinh Thị Hoan
× Đặng Thai Giai
Đặng Nguyên Cẩn
Phó bảng
Đặng Thai Mai
1902–1984
Đặng Bích Hà
× Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Con trai bà, Đặng Nguyên Cẩn, đỗ Phó bảng, là nhân vật nổi bật của phong trào cải cách và yêu nước. Cháu nội bà, Đặng Thai Mai (1902–1984), là giáo sư, nhà văn và nhà phê bình văn học hàng đầu, Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên và Viện trưởng đầu tiên của Viện Văn học Việt Nam. Và con gái ông, nhà sử học Đặng Bích Hà, đã kết hôn với đại tướng Võ Nguyên Giáp — qua đó nối dòng họ Đinh Nho với một trong những nhân vật vĩ đại nhất thế kỷ XX của Việt Nam.

« Chính nhờ bà, nhờ những phẩm chất cao quý kiên định, tình yêu thương mênh mông và sự chịu đựng lặng lẽ, kiên quyết trước mọi thử thách, mà tôi hiểu và ngưỡng mộ sức mạnh tiềm ẩn, phi thường của người phụ nữ Việt Nam. »

Đặng Thai Mai, viết về người bà Đinh Thị Hoan
Chương VII · chi thứ (mã B) · đời 14–17

Chi thứ và những chí sĩ

Chi thứ (mã B), hậu duệ của Đinh Nho Thận, đã cống hiến cho đất nước một dòng nhà giáo và chí sĩ — và chính trong chi này, ở đời thứ 17, đã được soạn ra cuốn lịch sử xuất bản năm 2023.

Từ Đinh Nho Lệ đến tác giả năm 2023

Đinh Nho Lệ (đời 14, còn gọi là cụ Hàn Lệ), đỗ tú tài, từ chối con đường làm quan để mở trường học. Con trai cả của ông, Đinh Nho Vỵ (1894–1959), cán bộ hành chính rồi Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Gia Lai, là ông nội của tác giả cuốn lịch sử năm 2023.

Đính chính · mã A / B của các ngành

Một phiên bản trước của gia phả đã nhầm gắn Đinh Nho Lệ, Đinh Doãn TếĐinh Nho Bộc vào chi trưởng (A). Thực ra họ thuộc chi thứ (B), hậu duệ của Đinh Nho Thận. Cuốn lịch sử này áp dụng đính chính đó và chú rõ mã đúng trong mỗi trường hợp.

Hai anh em dấn thân của Đông Kinh nghĩa thục

Hai anh em đời 15 (B) đã trả giá cho cuộc thức tỉnh dân tộc — người mất mạng, người chịu tù đày — cả hai đều gắn với phong trào cải cách và yêu nước Đông Kinh nghĩa thục và dòng Phan Bội Châu.

Đinh Doãn Tế (Đinh Nho Thục) — « ít nói, điềm đạm, một người quân tử thực sự », Phan Bội Châu nhận xét trong Việt Nam liệt sĩ truyện. Sang Nhật học năm 1908, rồi lánh nạn ở Xiêm (Bangkok), ông tham gia năm 1910 vào một chuyến đi bí mật của Phan Bội Châu và Phan Bá Ngọc vào biên giới Nghệ–Tĩnh. Đau ốm, kiệt sức sau hơn một tháng băng rừng, ông mất tại Phù Xa, trên đường rừng đất Lào, mới hai mươi sáu tuổi, miệng hô : « Giết người Pháp đi ! »

Đinh Nho Bộc, người làng Gôi Mỹ, hoạt động cùng Ngô Quảng, bị bắt ở Vinh ngày 31/8/1924 và bị đưa vào nhà tù Côn Đảo, nơi ông vẫn giữ vững khí tiết cách mạng. Ông đã sáng tác một bài thơ dài, gửi vợ qua một lần thăm nuôi. Ông không trở về: ông đã hy sinh tại nhà tù, và dòng họ ghi tên ông vào hàng liệt sĩ.

Nhà thơ Quỳnh Dao (1918–1947)

Ở đời 17, Đinh Nho Diệm — còn biết đến với bút danh Quỳnh Dao — là một giọng thơ của phong trào Thơ mới. Con trai Đinh Nho Huề, nhà nho nghèo và yêu nước, ông xuất bản từ năm mười chín tuổi tập thơ Tiếng chuông chiều (1937), rồi Tơ trăng (1939), được giới phê bình đương thời đón nhận. Làm báo, ông chủ trì tạp chí Đông Tây trước khi bị thực dân Pháp đình bản.

Tham gia Cách mạng từ năm 1944, ông vượt ngục Hỏa Lò qua đường cống ngầm tháng 3/1945, tham gia cướp chính quyền, và có tên trong số 74 ứng cử viên Quốc hội khóa đầu tiên tháng 1/1946. Đầu năm 1947, khi đang đạp xe dưới bóng cây gần Tuyên Quang, ông bị đạn từ máy bay Pháp bắn chết. Tên ông khắc trên một trong những tấm biển đồng (biển số 3) của khu tưởng niệm Hỏa Lò. Người con trai duy nhất, Đinh Nguyên Hà, lại ngã xuống ở chiến trường miền Nam sau khi nhập ngũ năm 1966.

Chương VIII · nhánh người anh thứ hai

Nhánh Nghi Long : dòng Đinh Văn

Người thứ hai trong bốn anh em, Đinh Phúc Tiên (1477–1550), ở lại trông coi mộ cụ bà và lập ra họ Đinh Văn ở Kim Khê (nay là Nghi Long, Nghi Lộc). Đỗ hương cống từ năm 1496, ông từ chối quan lộ để tròn đạo hiếu. Từ nhánh này nảy ra một dòng khoa bảng hiển hách.

Bốn đời đỗ đạt

Nhánh Nghi Long có bốn đời đỗ đạt, trong đó ba đời tiến sĩ :

Đinh Hồng Phiên
(1764–1833)hương cống (1783), hiệu đính sở Quốc sử thời Lê và Nguyễn. Năm 1833, ông thay Lê Văn Khôi thảo bài hịch kêu gọi dân chúng nổi dậy chống triều Nguyễn : từ đó dòng họ chịu án tru di tam tộc lần thứ nhất. Ông mất trên đường bị áp giải về Huế ; vợ và bốn người con trai bị hành hình ở Nghệ An.
Đinh Văn Phác
(1790–1833) — tiến sĩ, một trong tám người đỗ đầu tiên của triều Nguyễn. Vợ ông, Nguyễn Thị Tiềm, là con gái của đại thi hào Nguyễn Du. Ông chịu chung án với cha : bị hành hình trước chợ Nghệ An, bị đoạt hết bằng sắc, tên bị đục khỏi bia Tiến sĩ ở Văn Miếu.
Đinh Văn Chất
(1843–1887) — tiến sĩ, thủ lĩnh phong trào Cần Vương ; bị giao cho Pháp, chém đầu ngày 28/11/1887, gia tộc bị tru di tam tộc — lần thứ hai, năm mươi tư năm sau lần 1833.
Đinh Văn Chấp
(1882–1953)Hoàng giáp (1913). Thuở nhỏ, được một người làng che giấu thoát khỏi lệnh tru di, lánh sang Phúc Kiến, trở về và đỗ đầu kỳ thi. Đời thứ tư đỗ đại khoa.

Em của Đinh Văn Chất, Đinh Văn Uyển (tức Đầu xứ Uyển), là thầy học của chí sĩ Phan Bội Châu. Dòng họ này nhận họ hàng với Đinh Nho : Hoàng giáp Đinh Văn Chấp đã đích thân, vào những năm 1930, đến bái yết nhà thờ ở Hương Sơn và tặng một câu đối nổi tiếng xác nhận chung nguồn gốc :

Phả tồn bản, hà cảm vong, Hoan Ái nhị châu kinh thế đại
Tộc đồng địa, diệc phi dị, Hồng Lam thiên cổ nhất giang sơn.

« Gia phả còn gốc — sao có thể quên — hai châu Hoan, Ái, bao đời thứ tự ;
dòng họ cùng vùng — nào có xa lạ gì — Hồng Lam muôn thuở một non sông. »

Câu đối của Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, tại nhà thờ họ Đinh Nho

Hòa thượng Thích Minh Châu (1918–2012)

Con trai của Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, Đinh Văn Nam — trong đạo là Hòa thượng Thích Minh Châu — là một trong những nhân vật lớn nhất của Phật giáo Việt Nam. Thứ tư trong mười một anh chị em, ông gia nhập phong trào chấn hưng Phật giáo từ năm 1936; đỗ tú tài trường Khải Định (1940), ông làm thư ký Toà Khâm sứ được một năm rồi từ chức. Xuất gia, ông sang Ceylon (Sri Lanka) năm 1952, rồi sang Ấn Độ, Nalanda, và bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1961 so sánh Madhyama Āgama Hán tạng với Majjhima Nikāya Pali — người Việt Nam đầu tiên đạt học vị tiến sĩ Phật học, bằng cấp trao tận tay từ Tổng thống Ấn Độ.

Trở về năm 1964, ông sáng lập năm 1965 Viện Đại học Vạn Hạnh, lãnh đạo đến 1975, đào tạo hơn 4.500 sinh viên. Nhưng công trình cả đời là dịch toàn bộ Tạng kinh Pali (năm bộ Nikāya) ra tiếng Việt : hai mươi bốn tập, gần hai mươi nghìn trang, hoàn thành về cơ bản vào năm 2004 — lần đầu tiên trong lịch sử toàn bộ lời Phật được in thành sách tiếng Việt. Vì công trình đó, nhiều người gọi ông là « Huyền Trang của Việt Nam ». Ông viên tịch ngày 1/9/2012, thọ chín mươi lăm tuổi, để lại trên tháp mộ dòng chữ : « Yo sāro thassati — điều gì là lõi cây, điều đó sẽ tồn tại lâu dài. »

Chương IX · liên hệ được xác nhận & còn tranh luận

Các nhánh khác : Đức Thủy, Trung Lương, Hàm Giang

Đức Thủy — nhánh người anh thứ ba

Người anh thứ ba (tên húy đã thất lạc) định cư ở Đông Khê (nay là Đức Thủy, Đức Thọ) ; là võ quan hàm tứ phẩm, ông lập ra họ Đinh Trọng, đổi thành Đinh Văn từ đời thứ 9. Chi này đã có một phó bảng từ đời thứ 7 (Đinh Đăng Trù) và, ở thời hiện đại, có tướng Đinh Văn Khanh, Chính ủy Đoàn quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Nhà thờ, xây năm 1938, nhiều lần được dùng làm kho vũ khí trong hai cuộc kháng chiến, đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2009. Các bậc cao niên ở Đức Thủy vẫn truyền nhau câu nhắc nhở : « Họ Đinh chúng ta và họ Đinh Nho Hương Sơn không được lấy nhau, vì chúng ta là anh em. »

Trung Lương — một nhánh của họ Đinh Nho

Họ Đinh ở Trung Lương (nay là Hồng Lĩnh), theo gia phả của chính họ, gắn với gốc Đinh Nho : một người tổ đã tách ra khoảng đời thứ 3 để đến Can Lộc, rồi Trung Lương. Gia phả chữ Hán của họ, do nho sĩ Đinh Nho Tùng (đời 11) biên soạn, ghi cùng nguồn gốc Gia Viễn và giữ một bản chép tay Hương Yên phổ tự — điều đó cho thấy đã có sự công nhận lẫn nhau. Gắn với nghề truyền thống là rèn, chi này được coi là một nhánh của họ Đinh Nho — một sự phân chi sớm mà gia phả gốc có vẻ đã bỏ qua.

Hàm Giang — mối liên hệ được đưa ra nhưng còn tranh cãi

Trường hợp họ Đinh ở Hàm Giang (Hải Dương) minh họa cho sự nghiêm túc mà các nguồn tài liệu tự đặt ra. Tất cả phụ thuộc vào danh tính của người em út, Đinh Phúc An, và việc ông có gắn kết với danh tướng Đinh Văn Tả (sinh 1599) hay không. Về điểm này, hai phiên bản không thể dung hòa cùng tồn tại :

Phiên bản A · họ Đinh Văn ở Nghi Long

Đinh Văn Tả, cháu bốn đời của Đinh Phúc An

Theo bia « bốn anh em », Đinh Văn Tả là hậu duệ đời thứ 4 của Đinh Phúc An ; cha ông, Đinh Văn Phủ, tử trận ở Hải Dương năm 1600.

Phiên bản B · chính họ Hàm Giang

Đinh Văn Tả, hậu duệ trực tiếp của Đinh Điền

Theo Hàm Giang danh tướng liệt truyện (dẫn trong tạp chí Tri tân, 1943), dòng họ xuất phát thẳng từ Đinh Điền qua Thái bảo Đinh Đàm (sinh khoảng 1365), không hề nhắc đến cuộc chạy loạn vào đất Hoan.

Mâu thuẫn niên đại — để ngỏ

Phiên bản B hàm ý Đinh Phúc An sinh trước khoảng năm 1420 — điều này không thể vì em ông là Đinh Phúc Tiên sinh năm 1477. Ngoài ra, hai phiên bản bất đồng về địa điểm, hoàn cảnh mất của cha Đinh Văn Tả và về bậc quan hệ (đời 4 hay đời 5).

Vì thiếu bằng chứng đủ vững, sau hai lần gặp mặt chính thức, các trưởng tộc đã kết luận rằng không đủ cơ sở để kết nối họ Hàm Giang với ba dòng họ kia. Cuốn lịch sử này ghi lại cả hai phiên bản mà không phán quyết. Điểm chung duy nhất của mọi nguồn : tất cả đều nhận là dòng dõi của Đinh Điền — sự gặp nhau của các truyền thống, chứ không phải bằng chứng.

Một dị bản thứ ba: Đinh Văn Tả (1599-1685) theo bài viết năm 2014

Một bài viết của họ Đinh Việt Nam, đăng năm 2014, dành một tiểu sử chi tiết cho danh tướng Đinh Văn Tả ở Hàm Giang, « tiền chủ đất Thành Đông » — 300 mẫu lộc điền vua ban năm 1677 phủ gần hết thành phố Hải Dương xây năm 1804. Về phả hệ, bản kể này khác cả hai phiên bản nêu trên: đây là chứng cứ thứ ba, chúng tôi ghi lại mà không lấy làm kết luận.

ĐiểmBài viết 2014Nguồn của ta (gia phả, sách 2023)
Dòng dõihậu duệ Vua Đinh Tiên Hoàng, gốc Ninh Bìnhdòng dõi tướng Đinh Điền — điểm duy nhất bốn dòng họ đều nhất trí
Nơi sinhAn Tràng, Gia Viễn (Ninh Bình)An Trường, Chân Phúc (Nghi Lộc) theo bia Nghi Long; Thanh Hóa theo sách 1891 và 1943
Ngày sinhngày 26 tháng 11 năm Kỷ Hợigiờ Dần, ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Hợi
Cụ tổ Đinh Đàmtổ 5 đờicách Đinh Văn Tả sáu đời
Người chaĐinh Văn Phú, Hùng Quận côngĐinh Phủ, Thái bảo Hùng Quận công, mất khoảng 1600

Bù lại, bài viết cung cấp nhiều điều nguồn của ta không có: ba người vợ — Phạm Thị Ngọc Điều († 1652), ba con trai đều hy sinh năm 1645; Nguyễn Thị Ngọc Huống (1628-1682), lấy ông năm 1648, chính bà cũng được phong Thành hoàng vì đã cùng chồng ra trận; và một người vợ thứ ba ở Cao Bằng. Bài cũng cho biết ngày ông mất (ngày 4 tháng 5 năm Ất Sửu, 1685, thọ 87 tuổi), thụy hiệu « Vũ Dũng », sinh từ lập năm 1677 — ân sủng mà trước ông chỉ Trần Hưng Đạo được hưởng —, ba di tích ở phường Quang Trung, Hải Dương, 15 tấm bia trong đó bảy tấm khắc khi ông còn sống, xếp hạng di tích Quốc gia ngày 29-1-1992, và lễ hội ngày 8 tháng 3 âm lịch.

Một điều cần dè dặt về nguồn: bài viết ghi ông sinh « niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1599) ». Niên hiệu Vĩnh Thọ là 1658-1661; năm 1599 là thời Lê Kính Tông. Năm Kỷ Hợi = 1599 thì đúng, tên niên hiệu thì sai.

Kết luận không đổi: vì thiếu bằng chứng, sau hai lần gặp mặt chính thức các trưởng tộc đã kết luận rằng không đủ cơ sở để nối họ Hàm Giang với ba dòng họ kia. Bản kể thứ ba này không cung cấp bằng chứng đó — nó chỉ thêm một điểm bất đồng. Đọc bài viết.

Chương X · Thế kỷ XX–XXI

Dòng họ trong thời hiện đại

Truyền thống hiếu học không hề suy giảm sau khi kỳ thi Hán học chấm dứt. Ngoài các đại khoa thời xưa — bốn tiến sĩ (Đinh Nho Công, Đinh Nho Hoàn, Đinh Nho Điển, Đinh Nhật Thận), một Giải nguyên (Đinh Nho Côn) và nhiều cử nhân, tú tài trước 1945 — dòng họ đã đóng góp, ở thời hiện đại, những nhà ngoại giao, nhà sử học và khoa học gia hàng đầu.

Đinh Nho Liêm
(1924–2008) — đại sứ ở Ai Cập, Lào và Liên Xô ; Thứ trưởng Ngoại giao đầu tiên ; chủ biên Mặc Trai sứ tập (2009).
Đinh Xuân Lâm
(1925–2017) — nhà sử học, một trong « tứ trụ » của sử học Việt Nam (cùng Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng) ; xuất thân từ nhánh An Ấp tản về Xa Lang (Sơn Tân).
Đinh Xuân Vịnh
(đời 16) nhà nghiên cứu lịch sử và địa lý, tác giả cuốn Sổ tay địa danh Việt Nam nổi tiếng (754 trang).
Đinh Phạm Thái
(1937–2023) — giáo sư, tiến sĩ khoa học, nhà thơ và « nhà giáo nhân dân » ; em của nhà thơ Quỳnh Dao.
Đinh Dũng
giáo sư, tiến sĩ khoa học (toán học), đạt giải Tạ Quang Bửu.
Đinh Nho Hào
giáo sư, tiến sĩ khoa học toán học, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Toán học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam).
Đinh Việt Anh
mù từ nhỏ, trở thành thạc sĩ và Phó Chủ tịch Hội người mù Việt Nam.

Gia phả ghi nhận số lượng ngày càng tăng của tiến sĩ ở đời 17 và 18, trong các ngành toán, y, hóa và kỹ thuật. Năm 1999, báo Hà Tĩnh đã viết : « Dòng họ Đinh Nho là một dòng họ khoa hoạn lớn của Hương Sơn và xứ Nghệ… Dòng họ này đã sinh ra nhiều nhân vật nổi tiếng trong khoa bảng, quan lại và binh nghiệp. »

Dòng họ ngày nay

Người Đinh Nho ngày nay phân tán khắp cả nước và ra nước ngoài. Trưởng tộc hiện nay, Đinh Hải Quân, thuộc đời 19 ; ông kế tiếp mười tám đời trưởng tộc, trong đó có Đinh Nho Quỳ (1937–2022), người chủ trì biên soạn các lần in gia phả hiện đại. Tuy nhiên, các đời từ 18 trở đi vẫn còn chưa được ghi chép đầy đủ — đó là lý do vì sao chính dòng họ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục ghi chép và kết nối các dòng nhánh.

十一
Chương XI · sự lưu truyền

Di tích và sự sống còn của gia phả

Nếu lịch sử dòng họ đến tay chúng ta « còn nguyên vẹn », đó là nhờ sự kết hợp của hai lòng trung thành : lòng trung thành của đá và đền, và lòng trung thành của những người sao chép đã, từ đời này sang đời khác, cứu gia phả khỏi lãng quên.

Đền thờ và mộ phần

Dòng họ có nhà thờ đại tôn ở thôn Đồng Vực, Sơn Hòa, do hai chi trưởng chung quản, và ba đền thờ phụng các phúc thần : đền Gôi Vị (bốn vị phúc thần và Đinh Điền), đền Cụ Hường (Đinh Nho Điển) và đền Bạch Vân (gắn với huyền thoại về Đinh Nho Công).

Nhà thờ đại tôn xưa gồm những gì

Đất được Đinh Hữu Luân (đời 6) mua theo lời khuyên của thầy địa lý người Hoa Ngô Tiên sinh — vốn là đất của quan ngự sử Nguyễn Tử Trọng, tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1502), mà con cháu ông đã bỏ hoang. Nhà thờ được dựng lên khoảng năm 1670, gồm bốn nếp : Thượng điện (chính điện, gỗ sắt và gỗ mít, mái lợp ngói âm dương), Hạ điện (nơi con cháu tề tựu trước lễ), và hai dãy Tả vu, Hữu vu. Ngoài ra còn có nhà thờ riêng cho Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn và một miếu nhỏ thờ thầy Ngô — điều này khớp với di nguyện của Đinh Hữu Luân, xin lập cho thầy một cái am bên tả từ đường.

⚠ Dị bản : bài tường thuật lễ khánh thành 2025 ghi người sáng lập là Đinh Nho Công (đời 7), còn luận văn Nguyễn Văn Sô và ghi chép thực địa lại ghi cha ông là Đinh Hữu Luân (đời 6). Cha mua đất, con dựng nhà : điều đó hợp lý, nhưng chưa được xác lập. Bản thân năm 1670 cũng chỉ là ước lượng.

Bốn đền dồn về một

Trước năm 1947, xã Sơn Hòa có bốn đền — Gôi Mỹ, Bình Hòa, Chợ Gôi và Đông Mỹ. Chiến tranh làm hư hại một số, việc trùng tu không thể thực hiện, nên chính quyền địa phương quyết định hợp nhất về đền Gôi Mỹ. Vậy đền Gôi Vị được Nhà nước xếp hạng năm 2018 không chỉ giữ hương khói của riêng mình : nó giữ bài vị của bốn đền. Chi tiết này do luận văn Nguyễn Văn Sô (2008) chép lại ; sách của Đinh Tú Anh không nói đến.

Hai mất mát cùng loại. Nhà thờ chi thứ, ba gian, thờ tổ đời 8 Đinh Nho Thận, cách nhà thờ chính chừng hai trăm mét, ở thôn Đông Mỹ : nhà thờ ấy bị bán khoảng năm 1948, trong đợt hợp nhất nơi thờ tự. Và hai quả chuông đồng cổ, một quả của đền Gôi Vị, bị chuyển đi hết lần này đến lần khác — từ đền sang chùa, từ chùa sang nhà chung, từ nhà chung ra một cây trong làng, rồi về đền đã trùng tu — trước khi mất tích khoảng năm 1982-1983. Bà giữ chìa khóa, khi đền còn dùng làm trụ sở hành chính, nhận thấy ổ khóa vẫn còn nguyên.

Bài ca Tứ Phúc Thần

Dòng họ chỉ giữ được một bài văn tế trọn vẹn : Tứ Phúc Thần ca, do Đinh Huy Tăng (cũng viết Hy Tăng, tên là Đinh Nho Tĩnh), tổ đời 13, thân phụ tiến sĩ Đinh Nho Điển, soạn ra. Bài gồm mười sáu khổ, mỗi khổ bốn câu, chia làm bốn phần theo thứ tự thờ tự ở đền Gôi Vị — Đinh Nho Công là cha, Đinh Nho Hoàn là con, Phan Thị Viên là con dâu, Đinh Nho Côn là em — và kết lại bằng những lời răn trên bia năm 1715.

⚠ Nguyên văn không được công bố ở đây. Trang này chỉ có một bản dịch qua trung gian, chưa đối chiếu với sách 2023 là nguồn duy nhất. Cấu trúc và tác giả thì chép lại được ; còn câu chữ xin chờ đọc trên nguyên bản.

Những gì đã được dựng lại năm 2025

Lễ khánh thành ngày 6 tháng 9 năm 2025 — rằm tháng Bảy năm Ất Tỵ — ghi nhận ba công trình : dựng lại nhà thờ đại tôn trên nền cũ, xây mới nhà thờ thổ địa, và trùng tu nhà thờ tiểu chi của tộc trưởng. Trang này trước đây đưa tin lễ khánh thành mà không nói lễ ấy mừng điều gì : nay đã ghi rõ.

⚠ Một thôn, ba tên xã: trang này ghi Đồng Vực thuộc xã Sơn Hòa; các bản tin lễ khánh thành 2025 ghi Sơn Tiến; gia phả, ở một mục gần đây, ghi An Hòa Thịnh. Cả ba đều có thể đúng vào những thời điểm khác nhau — Hà Tĩnh đã sáp nhập nhiều xã trong những năm qua. Chừng nào chưa ai kiểm chứng tại chỗ, cả ba cách ghi đều được giữ lại, thay vì chọn bừa một cách.

Năm quần thể mộ phần tổ tiên còn tồn tại :

Hoàng Quý Thị
mộ cụ bà, nghĩa địa Kỳ Ông Trường (Nghi Long, Nghi Lộc).
Áng Phần
16 ngôi mộ — tổ khai canh và nhiều đời tiếp theo.
Lòi Chim Chim
mộ đời thứ 2 (núi Điểu Lĩnh).
Trai Sơn (rú Trai)
mộ đời thứ 5.
Lăng Kim Hoa
mộ đời thứ 6 và 7.

Điều hiếm thấy ở một dòng tộc lớn Việt Nam : mộ cụ bà, mộ tổ khai canh và mộ các đời tiếp theo được bảo tồn gần như nguyên vẹn qua các thế kỷ.

Nhà thờ đại tôn · Đồng Vực
Nhà thờ đại tôn · Đồng Vực📷 Ảnh sẽ được bổ sung
Đền Gôi Vị
Đền Gôi VịĐược xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia ngày 5-3-2018; đón bằng ngày 23-6-2018.
Mộ bà Hoàng Quý Thị · Nghi Long
Mộ bà Hoàng Quý Thị · Nghi Long📷 Ảnh sẽ được bổ sung
Áng Phần
Áng Phần📷 Ảnh sẽ được bổ sung
Lòi Chim Chim
Lòi Chim Chim📷 Ảnh sẽ được bổ sung
Trai Sơn (rú Trai)
Trai Sơn (rú Trai)📷 Ảnh sẽ được bổ sung
Lăng Kim Hoa
Lăng Kim Hoa📷 Ảnh sẽ được bổ sung
Văn Miếu – Quốc Tử Giám · Hà Nội

Trong số 82 bia Tiến sĩ tại Văn Miếu, hai tấm bia mang họ Đinh Nho — cha và con, cách nhau ba mươi năm. Vị trí của hai tấm bia như sau.

1 Đinh Nho Công · Canh Tuất 1670 · bia số 45 · vườn phía tây, hàng ngoài, vị trí thứ 18 kể từ Khuê Văn Các  —  2 Đinh Nho Hoàn · Canh Thìn 1700 · bia số 55 · cùng hàng, vị trí thứ 10, sát nhà bi đình

Bản đồ tương tác

Luồng di cư & di tích trên bản đồ Việt Nam

Từ Gia Viễn (Ninh Bình) đến Sơn Hòa (Hương Sơn) : hành trình của dòng họ từ cuộc chạy loạn Mạc (1527) đến các chi phân tán ngày nay. Nhấp vào điểm đánh dấu để xem thông tin chi tiết.

Cuộc hành trình dài của Hương Yên phổ tự

Gia phả đã trải qua gần ba thế kỷ thất lạc và phục hồi — một chuỗi những tấm lòng như sau :

khoảng 1700
Gia phả đầu tiên do Đinh Nho Hoàn (đời 8) lập — bị cháy.
sau 1715
Con rể Nguyễn Trọng Thường phục dựng một bản, gọi là Đinh phổ lược sao.
1795
Đinh Thái Lãng (đời 12; bảng mộ phần bên dưới chép là Thái Lăng) biên soạn Hương Yên phổ tự bằng chữ Hán, có lời tựa của tiến sĩ Phan Bảo Định.
1898
Tuần phủ Đinh Nho Quang (đời 14) viết lại và bổ sung.
khoảng 1926
Đinh Nho Tuyên (đời 15) dịch sang quốc ngữ ; Đinh Nho Dật (đời 16) hiệu đính và bổ sung.
1954–1956
Thất lạc trong Cải cách ruộng đất, rồi được Đinh Nho Dật kiên nhẫn phục hồi ; chép lại năm 1988 bởi Đinh Nho Chú.
2000 · 2010 · 2020
Các lần in hiện đại do trưởng tộc Đinh Nho Quỳ (đời 18) chủ biên.
Sự cứu vãn bởi chi Thanh Liên

Mắt xích quyết định : khi bản Hương Yên phổ tự gốc cuối cùng bị thất lạc, chính bản chép tay của tiến sĩ Đinh Nhật Thận, được chi Thanh Liên gìn giữ, đã giúp tìm lại được văn bản ban đầu. Năm 2010, một phái đoàn mười thành viên chi Thanh Liên, đến dự lễ tế tổ khai canh, đã trao cho chi Hương Sơn một bản photocopy. Ký ức của một nhánh đã cứu lấy ký ức của cả gốc cội.

Sổ mộ phần các đời tộc trưởng

Sách năm 2023 giữ lại, cho từng vị tộc trưởng, ngày giỗ theo âm lịch, tuổi thọ và nơi an nghỉ. Đó vừa là tư liệu ký ức vừa là tài liệu dùng hằng năm: những ngày ấy vẫn định lịch giỗ, và những nơi ấy vẫn định đường đi tảo mộ tiết Thanh minh.

ĐờiTộc trưởngNăm sinh–mấtGiỗ (âm lịch)ThọMộ phần
1Đinh Phúc Diên9/193Áng Phần
2Đinh Phúc Trường18/760Lòi Chim Chim
3Đinh Phúc Bảo25/673
4Đinh Chính Tính14/871Áng Phần
5Đinh Phúc Khánh19/182Trai Sơn
6Đinh Hữu Luân1602–167618/375Lăng Kim Hoa
7Đinh Nho Công1637–169527/259Lăng Kim Hoa
8Đinh Nho Trạch1656–171115/256Áng Phần
9Đinh Nho Thực1679–17578/679Ngọc Côn
10Đinh Nho Tể1705–176515/761Thổ Vượng
11Đinh Nho Quý1722–178819/767Áng Phần
12Đinh Thái Lăng1754–180921/756Áng Phần
16Đinh Nho Hành (Hồ)1885–194517/661Đồng Mậu
17Đinh Nho Liên1905–194627/1242Đồng Mậu
18Đinh Nho Quỳ1937–202230/586

Gia phả không giữ được năm tháng lẫn mộ phần của ba vị tộc trưởng đời 13, 14 và 15 — Đinh Nho Tự, Đinh Nho Siêu và Đinh Nho Tánh. Chỗ trống ấy được ghi nguyên như vậy.

Khu mộ Áng Phần

Nơi đây quy tụ mười sáu ngôi mộ: cụ thủy tổ và hai bà vợ — bà cả họ Đào, bà kế không rõ tên; Đinh Chính Tính cùng bà vợ họ Dương; bà cả của Tiến sĩ Đinh Nho Công, họ Đặng, húy Đô; Đinh Nho Trạch cùng bà vợ họ Đặng, húy Giản; Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn với hai bà vợ — bà họ Lê, húy Vệ, và Phan Thị Viên; bà cả của Tổng binh Đinh Nho Côn; Đinh Nho Thận; Đinh Nho Thành; và Đinh Thái Lăng cùng bà vợ họ Trần, húy Bảng.

Có mộ đã táng ở đây từ lâu, có mộ về sau con cháu quy tập từ nhiều nơi. Khu mộ được con cháu trùng tu năm 1993. Cổng khu mộ khắc câu đối mà Đinh Nho Hoàn để lại cho hậu thế — 進為義士 退為良農, Tiến vi nghĩa sĩ, thoái vi lương nông: tiến lên thì làm kẻ sĩ giữ nghĩa, lui về thì làm người nông dân lương thiện.

Đọc lại

Một thứ vốn chuyển hóa như thế nào

Một gia đình không chỉ có của cải. Gia đình ấy nắm vốn quý tộc — thứ bậc, có được do dòng dõi hoặc do công trạng: một phẩm hàm, một tước vị; vốn biểu tượng — danh dự được thừa nhận: tước vị, tấm bia, ngôi đền; vốn chính trị — chức phận, sự gần gũi quyền lực; vốn văn hóa — tri thức, khi thì thấm vào người, khi thì được thể chế hóa thành bằng cấp; vốn xã hội — mạng lưới thông gia bền lâu; vốn kinh tế — tài sản. Trong năm thế kỷ, dòng họ này nhiều lần đổi hình thức chủ đạo của cái làm nên giá trị mình, mà chưa hề đổi cách giành lấy nó. Đây là một cách đọc: nó thêm vào tư liệu chứ không thay thế tư liệu.

Năm trạng thái, bốn lần đứt gãy

Mỗi lần quyền lực đổi chủ, thứ « tiền tệ » dùng để đo giá trị của dòng họ lại mất giá. Mỗi lần, dòng họ đổi tiền tệ thay vì biến mất.

Trước 1543
Võ nghiệp
Vốn quý tộc và trung nghĩa. Đinh Phúc Diên không phải nhà nho: cụ mang chức võ Tả Hiệu Điểm, hàm nhị phẩm. Tước Công Tây Hầu được ban về sau, để thưởng công phù Lê diệt Mạc.
Đứt gãy — nhà Mạc tiếm ngôi, cả nhà ly tán; cụ tổ đến An Ấp lúc đã ngoài bảy mươi.
1543–1670
Chững lại
Vốn văn hóa tái tạo mà không chuyển hóa lên. Trái với hình dung thường thấy, các đời ấy không hề im lặng: Đinh Phúc Trường đỗ tứ trường năm hai mươi bốn tuổi, Đinh Phúc Bảo năm mười chín, Đinh Chính TínhĐinh Phúc Khánh ở tuổi đôi mươi, Đinh Hữu Luân năm mười sáu tuổi (1617). Cái không đời nào đạt được là kỳ thi cao hơn. Cụ Bảo hỏng kỳ xã sách nên chuyển sang nghề thuốc; cụ Hữu Luân vào « ban hoa văn » của phủ rồi làm tá lại một huyện.
Không phải đứt gãy: một trần nhà.
1670–1919
Khoa cử
Trần nhà vỡ: vốn văn hóa được thể chế hóa, lập tức đổi thành vốn biểu tượng và chính trị. Đinh Nho Công đỗ tiến sĩ — và có sáu con trai, chấm dứt cảnh độc đinh. Tiếp đó bốn đời đỗ đạt trong đó ba tiến sĩ, hai tấm bia ở Văn Miếu, các chức ngự sử, tuần phủ, sứ thần.
Đứt gãy — bãi bỏ khoa cử năm 1919, đồng tiền ấy mất giá chỉ sau một đêm.
1885–1945
Dấn thân
Vốn chính trị có được nhờ hy sinh. Cần Vương, Đông Du, Côn Đảo: làm nên giá trị không còn là bài thi, mà là sự dám liều. Sổ nhà tù thay cho tấm bia.
Đứt gãy — năm 1945, rồi Cải cách ruộng đất, đổi cả người ban giá trị lẫn tiêu chí ban.
Từ 1954
Bằng cấp
Lại là vốn văn hóa được thể chế hóa — tiến sĩ khoa học, ghế giáo sư, danh hiệu nhà nước. Kỳ thi trở lại, dưới một tên khác và với những môn khác.
Đứt gãy đang diễn ra — từ 1986, thị trường đưa ra một sự thừa nhận không còn đi qua nhà nước: vốn kinh tế lần đầu xuất hiện như một nguồn lực tự thân.

Cái dòng họ mang đến Hương Sơn là một thứ bậc: một chức võ hàm nhị phẩm, lòng trung với nhà Lê, và tước vị mà cuộc trung hưng sẽ đem lại. Nghiệp bút đến sau, và đến ngay tại chỗ: việc chuyển hóa diễn ra trong thời kỳ chững lại, nơi suốt năm đời không vượt nổi kỳ thi cao hơn. Vốn văn hóa được truyền ở một mức không đổi, không tiến lên; thậm chí rẽ sang nghề thuốc khi cửa khoa cử khép lại. Vậy điều năm 1670 tạo ra không phải một cuộc thức tỉnh, cũng không phải một bước thăng tiến từ tay trắng: đó là một trần nhà vỡ, sau một trăm ba mươi năm gắng sức.

Vốn xã hội: các mối thông gia làm được gì

Đây là hình thức ít thấy nhất trong gia phả, vốn ghi người chứ không ghi quan hệ — nhưng gia phả vẫn giữ dấu vết, đúng ở chỗ quan hệ đi qua một cuộc hôn nhân. Ba trường hợp cho thấy sức sinh lợi của nó.

Trường hợp thứ nhất là một món nợ được chuyển hóa. Cha của Phan Thị Viên, viên quan bị tù oan, được Đinh Nho Công tha khi ông đi xét ngục; lúc mất, ông gửi lại mong ước rằng con gái mình một ngày trả được món nợ ấy. Một đời sau, Đinh Nho Hoàn cưới bà. Ơn nghĩa thành thông gia — và thông gia về sau thành một vị thần được thờ.

Trường hợp thứ hai là hôn nhân danh giá: Đinh Văn Phác, tiến sĩ, cưới Nguyễn Thị Tiềm, con gái đại thi hào Nguyễn Du. Trường hợp thứ ba đi xa nhất: Đinh Thị Hoan lấy ông cử Đặng Thai Giai, và từ mối duyên ấy sinh ra Đặng Nguyên Cẩn, rồi Đặng Thai Mai, rồi Đặng Bích Hà, phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Một đám cưới thế kỷ XIX nối dòng họ với trung tâm chính trị của Việt Nam thế kỷ XX.

Đến đây thấy rõ vì sao vốn xã hội không phải một hình thức ngang hàng các hình thức khác: nó là môi trường trong đó các thứ vốn kia chuyển hóa. Không có mạng lưới thông gia, tấm bằng chỉ là tờ giấy và tước vị chỉ là dòng chữ khắc.

Cái giá của sự chuyển hóa

Chuyển từ hình thức này sang hình thức khác không phải điều ra lệnh được: nó diễn ra nhờ những người cùng lúc nắm hai thứ vốn và khiến chúng đổi được cho nhau vì mang cả hai trên một thân. Đinh Văn Chất vừa là tiến sĩ vừa là thủ lĩnh khởi nghĩa Cần Vương: nơi ông, học vị triều đình thành danh nghĩa kháng chiến. Đinh Doãn Tế sang Nhật theo Đông Du và mất năm hai mươi sáu tuổi. Đinh Nho Bộc hy sinh nơi nhà tù Côn Đảo.

Nhưng không gì trong đó là miễn phí, và sự trung thực của một cách đọc đo bằng những gì nó chịu tính vào. Cái chết tuẫn tiết của Phan Thị Viên đem lại cho dòng họ một khối vốn biểu tượng lớn — triều đình ban khen, lập đền thờ, phong thần — với cái giá là một mạng người mười chín tuổi. Cải cách ruộng đất những năm 1950 lấy đi tài sản và suýt làm mất chính cuốn gia phả. Và sự chuyển hóa còn vấp về sau rất lâu: tiểu sử Đinh Nho Kiểu nói thoáng qua — năm 1980, « một lời phê mơ hồ ở địa phương » chặn đứng chuyến đi làm nghiên cứu sinh ở Đức. Ba mươi lăm năm sau 1945, gốc gác khoa bảng vẫn vừa là vốn vừa là nợ, tùy người cầm bút. Ông trở về, dạy trường huyện, rồi ngoài năm mươi tuổi mới về dạy các lớp chuyên của Hà Tĩnh — Trường Năng khiếu do tỉnh lập năm 1991, nay là Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh, một trong mười trường trung học hàng đầu cả nước, kỷ yếu nhà trường tri ân ông là « người trong cõi nhớ ». Vốn liếng dựng lại thấp hơn một bậc so với chỗ nó từng bị chặn — và chính từ ngôi trường ấy sẽ ra đời những tấm huy chương vàng Olympic Toán quốc tế năm 2013 và 2017.

Hình thức đổi, cấu trúc còn

Dưới mọi hình thức ấy vẫn là một cử chỉ: giá trị của dòng họ luôn được chính quyền trung ương đương thời thừa nhận, và luôn phải qua một cuộc thử thách — khoa thi, trận mạc, tấm bằng. Không bao giờ qua ruộng đất, không bao giờ qua buôn bán. Vì thế đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác không tốn kém như ta tưởng: đổi không phải cử chỉ, mà là cái cửa.

Một nhà tiến sĩ triều đình đã thành một nhà tiến sĩ đại học. Cái truyền từ đầu đến cuối không phải một nghề, không phải một gia sản, cũng không hẳn một vốn tri thức: đó là một cách coi trọng việc học, đủ mềm dẻo để tự làm mới sau mỗi lần đổi triều, và đủ vững để sống sót qua tất cả.

Phần mà tư liệu không giữ

Gia phả ghi những thành đạt và đi theo dòng nam. Những vấp ngã, những cuộc đời bình thường, phần lớn các mối thông gia không dẫn tới tước vị nào — đều không để lại dấu vết; phụ nữ chỉ hiện ra khi có một sự kiện phi thường: Phan Thị Viên nhờ sự tuẫn tiết, Đinh Thị Hoan nhờ dòng dõi để lại. Vốn xã hội thật sự của một gia đình vì thế, theo chính cấu tạo của tư liệu, bị ghi thiếu ở ngay nguồn duy nhất nói về nó. Cái đo được ở đây là phần mà dòng họ đã chọn giữ lại về chính mình: một chỉ dấu về điều họ cho là đáng truyền, không kém gì về điều họ đã là.

Cũng cần dè dặt với chữ « dòng họ », dễ khiến ta tưởng có một chủ thể duy nhất theo đuổi một chiến lược. Thế kỷ XVIII, lòng trung của Đinh Nho Côn với chúa Trịnh đặt ông đối lập với chính người anh mình, vốn theo cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật, đến mức « hai anh em không thể ở chung được nữa » (chương IV). Không phải một dòng họ chuyển hóa vốn của mình: là những cá nhân đánh cược, đôi khi chống lại nhau — và ký ức gia đình, vốn chỉ giữ lại người thắng, về sau tạo ra dáng vẻ của một chủ ý.

Lời kết

Cái nhìn của Đặng Thai Mai

Là hậu duệ dòng họ qua người bà Đinh Thị Hoan, giáo sư Đặng Thai Mai đã để lại về dòng Đinh Nho những dòng nhận định trầm tĩnh, sâu sắc — một điểm kết đẹp cho cuốn lịch sử này.

« Họ Đinh là một họ lớn. Nghe nói truy nguyên rất xa sẽ đến thời Đinh Tiên Hoàng, Đinh Điền… Nhà thờ còn tấm hoành phi thời Lê, thờ bà tiết nghĩa, vợ ông Đinh Nho Hoàn đỗ đầu bảng hay nhì bảng gì đó, chết trên đường sứ sang Trung Quốc…

Với chúng ta ngày nay, những chuyện dòng dõi khoa bảng, đỗ đạt, chết trên đường sứ chỉ là những trang lịch sử về phong tục một thời phong kiến đã qua. Nhưng qua các thế kỷ, con cháu họ Đinh đã thấy trong đó, ngoài niềm tự hào, còn là một truyền thống chăm học, khổ học và cái đức mà người xưa gọi là trung nghĩa, chính trực, kiên định. »

Đặng Thai Mai, Hồi ký (1985)
丁族千秋畱玉彩

Lịch sử dòng họ Đinh Nho Hương Sơn (Hà Tĩnh)

Dòng họ khoa bảng, quan lại và chí sĩ yêu nước — từ thế kỷ XVI đến ngày nay

Tổng hợp từ gia phả dòng họ (các lần in 2000–2020), Lịch sử dòng họ Đinh Nho của Đinh Tú Anh (2023) và luận văn đại học của Nguyễn Văn Sô (Đại học Vinh, 2008). Sự kiện đã xác nhận và giả thuyết được phân biệt rõ ; đính chính và mâu thuẫn được nêu tường minh.

📚 Xem các tư liệu này trong Thư viện  ·  🌳 Khám phá cây gia phả đầy đủ