← Tất cả nhân vật
Bia Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1838), Văn Thánh Miếu Huế (bia số 6). Ảnh: Doãn Hiệu, Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0.
Bia Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1838), Văn Thánh Miếu Huế (bia số 6). Ảnh: Doãn Hiệu, Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0.

Đinh Nhật Thận

1815–1866 ⚠︎ · Tiến sĩ (1838), nhà thơ · đời thứ 11

Chắt của Đinh Nho Côn, sinh ở Thanh Liêu (Thanh Chương, Nghệ An). Tự Tử Úy, hoặc Tử Quý theo một bài viết được ĐTA 2023 in lại ⚠︎ (D-T26); hiệu Bạch Mao Am. Đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1838), ông được bổ làm tri phủ, rồi bị cách chức; về sau ông từ chối phục chức ⚠︎ (D-H20). Vốn thân giao với Cao Bá Quát, ông bị bắt sau cuộc khởi nghĩa năm 1854 và bị giải về Huế; tại đó ông viết Thu dạ lữ hoài ngâm. Các nguồn kể khác nhau về việc ông được tha ⚠︎ (D-H21).

Trở về quê, ông dạy học cho đến khi mất. Theo một bài viết của Hồ Hữu Phước được GP2020 in lại, Đặng Thai Mai xếp Thu dạ lữ hoài ngâm vào bốn khúc ngâm hay nhất của văn học cổ điển. Tên ông được khắc trên bia Tiến sĩ khoa thi năm 1838, ở Văn Miếu Huế.

Những mốc chính

Sinh
1815, Thanh Liêu (Thanh Chương)
Mất
1866 (1886 theo một bài viết năm 2010 ⚠︎), tại Thanh Liêu; 51 tuổi tròn
Đời
11 (chi Thanh Liên)
🌳 Xem trong cây gia phả📜 Đọc thơ của cụ

Nguồn

  • Wikipedia, « Đinh Nhật Thận »
  • GP2020 [đời 8; Phần A; Phần D § 6]
  • ĐTA 2023 [p. 12, 87, 139–140]
  • D-H20, D-H21, D-H22, D-H23; D-T26

Trên báo chí và trên mạng