
Đinh Nhật Thận
1815–1866 ⚠︎ · Tiến sĩ (1838), nhà thơ · đời thứ 11
Chắt của Đinh Nho Côn, sinh ở Thanh Liêu (Thanh Chương, Nghệ An). Tự Tử Úy, hoặc Tử Quý theo một bài viết được ĐTA 2023 in lại ⚠︎ (D-T26); hiệu Bạch Mao Am. Đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1838), ông được bổ làm tri phủ, rồi bị cách chức; về sau ông từ chối phục chức ⚠︎ (D-H20). Vốn thân giao với Cao Bá Quát, ông bị bắt sau cuộc khởi nghĩa năm 1854 và bị giải về Huế; tại đó ông viết Thu dạ lữ hoài ngâm. Các nguồn kể khác nhau về việc ông được tha ⚠︎ (D-H21).
Trở về quê, ông dạy học cho đến khi mất. Theo một bài viết của Hồ Hữu Phước được GP2020 in lại, Đặng Thai Mai xếp Thu dạ lữ hoài ngâm vào bốn khúc ngâm hay nhất của văn học cổ điển. Tên ông được khắc trên bia Tiến sĩ khoa thi năm 1838, ở Văn Miếu Huế.
Những mốc chính
- Sinh
- 1815, Thanh Liêu (Thanh Chương)
- Mất
- 1866 (1886 theo một bài viết năm 2010 ⚠︎), tại Thanh Liêu; 51 tuổi tròn
- Đời
- 11 (chi Thanh Liên)
Nguồn
- Wikipedia, « Đinh Nhật Thận »
- GP2020 [đời 8; Phần A; Phần D § 6]
- ĐTA 2023 [p. 12, 87, 139–140]
- D-H20, D-H21, D-H22, D-H23; D-T26