Nhân vật

Nhân vật dòng họ Đinh Nho

Nhà nho, quan lại, chí sĩ và nhà khoa học, từ thế kỷ XVI đến nay

Mục này giới thiệu 39 nhân vật: 36 người thuộc dòng họ Đinh Nho ở Hương Sơn, theo thứ tự các đời, rồi ba nhân vật của họ Đinh Văn ở Nghi Long, một dòng họ có quan hệ thân thuộc. Mỗi mục gồm một bài tiểu sử, các mốc chính, nguồn của mục và, nếu có, các liên kết đến báo chí.

Theo mặc định, các nguồn được đọc theo thứ tự sau: Hương Yên phổ tự (HYPT; bản chép của Đinh Nho Dật, 1987, và của Đinh Nho Chú, 1988), Gia phả họ Đinh Nho (các bản 2000-2010 và 2020), cuốn lịch sử dòng họ của Đinh Tú Anh (2023), luận văn của Nguyễn Văn Sô (2008), kỷ yếu hội thảo khoa học năm 2015 về Đinh Nho Hoàn (HT2015), sau cùng là báo chí, nguồn của các cơ quan, tổ chức và Wikipedia. Thứ tự này là một giả định, không phải một thang bậc về sự thật. Bia mộ ở khu mộ Áng Phần và lăng Kim Hoa, đã được chụp ảnh, được dẫn là « bia mộ ».

Dấu ⚠︎ đánh dấu một chỗ các nguồn không thống nhất; số hiệu đi kèm dẫn về sổ ghi các chỗ bất đồng của trang Lịch sử dòng họ (D-H), trang Gia phả (D-G) hoặc trang Bốn vị phúc thần của dòng họ (D-T). [cần kiểm tra trang] đánh dấu một tham chiếu có thể kiểm tra trong một tài liệu đã xác định; [chưa xác định được nguồn], một chi tiết chưa tìm thấy nguồn. Ngày tháng âm lịch được giữ nguyên; tuổi được ghi theo tuổi ta, kèm theo tuổi tròn.

Đinh Phúc Diên

Đinh Phúc Diên

TK XVI

Thế kỷ XVI · thủy tổ · đời thứ 1

Thủy tổ của dòng họ. Là võ quan mang chức tước Tả Hiệu Điểm Công Tây Hầu, ông từ Gia Viễn (Ninh Bình) đến định cư ở thôn Bình Hòa, tại An Ấp (Hương Sơn), khoảng năm 1543–1546, hoặc khoảng năm 1530 theo một giả thuyết khác ⚠︎ (D-H01). HYPT giải thích chức tước của ông bằng việc « dẹp giặc có công »; phần A của GP2020 thì giải thích bằng việc ông phù nhà Lê chống nhà Mạc ⚠︎ (D-H06).

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả
Đinh Hữu Luân

Đinh Hữu Luân

TK XVII

1602–1676 · phụ tá quan huyện · đời thứ 6

Đỗ thi Hương năm 16 tuổi, năm 1617, đến năm 19 tuổi, năm 1620, ông được tuyển vào « Năng văn bộ » [?] của phủ. Sau việc dẹp loạn ở phía Nam, ông làm phụ tá quan huyện (huyện tá) ở Đông Ngạn.

Xem chân dung →
Đinh Nho Công

Đinh Nho Công

TK XVII

1637–1695 · Tiến sĩ (1670), ngự sử · đời thứ 7

Con trai thứ hai của Đinh Hữu Luân, húy Tung. Đỗ thi Hương năm 14 tuổi, ông phải trở về làm ruộng từ năm 18 đến năm 28 tuổi, rồi học lại. Đỗ Giải nguyên năm 1669, ông đỗ Tiến sĩ (đệ tam giáp đồng tiến sĩ) khoa Canh Tuất, năm 1670, lúc 34 tuổi (33 tuổi tròn): vị Tiến sĩ đầu tiên của dòng họ. Làm Thiêm đô Ngự sử, ông được vua ban lời khen « Ngôn ngữ phong lăng ».

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả
Đinh Nho Trạch

Đinh Nho Trạch

TK XVII–XVIII

1656–1711 · tộc trưởng · đời thứ 8, chi trưởng

Con trưởng của Đinh Nho Công, ông đỗ hương cống năm 1673, lúc 18 tuổi (≈ 17 tuổi tròn), và ở lại Hương Sơn: ông là tộc trưởng đời thứ 8 và là tổ của chi trưởng (A). Theo HYPT, ông cho mở một con đường men theo sông để dân làng khỏi gánh việc phục dịch các đoàn sứ Lào, rồi lui về ở ẩn trên núi Tiêu Sơn; người ta gọi ông là « Giả tiên nhân », « như một vị tiên ».

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả
Đinh Nho Thận

Đinh Nho Thận

TK XVII–XVIII

Thế kỷ XVII–XVIII · tổ của chi thứ · đời thứ 8

Con trưởng của bà vợ thứ hai của Đinh Nho Công, ông ở lại Hương Sơn và trở thành tổ của chi thứ (B). Năm sinh, năm mất của ông không rõ; bia mộ ghi ông là « Quan viên tử » (con quan) và ghi ngày giỗ của ông, ngày 7 tháng Chạp. Vợ ông là người họ Bùi.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả

Đinh Nho Thường

TK XVIII

Thế kỷ XVIII · tri huyện · đời thứ 8

Con trai của Đinh Nho Công; HYPT gọi ông là Nho Thưởng và ghi ông là con trai thứ năm; ĐTA 2023 ghi ông là con trai thứ hai của bà vợ thứ hai, còn Đinh Quang Tích ghi là con trai thứ tư ⚠︎ (D-H15). Làm tri huyện, ông rời Hương Sơn đến Can Lộc.

Xem chân dung →
Đinh Nho Hoàn

Đinh Nho Hoàn

TK XVII–XVIII

1671–1714/1716 ⚠︎ · Hoàng giáp (1700), phó sứ · đời thứ 8

Con trai thứ ba của Đinh Nho Công, hiệu Mặc Trai. Đỗ Hoàng giáp (đệ nhị giáp tiến sĩ) khoa Canh Thìn, năm 1700, ông làm Đốc trấn Cao Bằng từ năm 1704 hoặc 1705 ⚠︎ (D-T11). Ở đó ông cho khơi thông dòng sông, rút gọn thủ tục và giảm thuế; các thương nhân người Hoa dựng cho ông, ngay khi ông còn sống, một tấm bia ca tụng, tức Đức chính bi. Sau đó ông làm Thượng bảo Tự khanh.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả
Phan Thị Viên

Phan Thị Viên

TK XVIII

† 1716 hoặc 1717 ⚠︎ · « Tiết phụ » · đời thứ 8 (qua hôn nhân)

Là con gái một viên chức giữ sổ sách ở Do Lễ (Hưng Nguyên) từng được Đinh Nho Công cho tha, bà trở thành vợ thứ của Đinh Nho Hoàn năm mười sáu tuổi ⚠︎ (D-T04). Là người hay chữ, bà xướng họa thơ với chồng; thơ xướng họa của hai người được chép thành một tập, nay đã thất truyền; do chính tay bà viết, nay còn lại ba trong mười bài thơ tiễn biệt, một bài văn tế và hai bức thư.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả
Đinh Nho Côn

Đinh Nho Côn

TK XVIII

Thế kỷ XVIII · võ quan · đời thứ 8

Con trai thứ sáu, cũng là con út của Đinh Nho Công, em cùng cha khác mẹ của Đinh Nho Hoàn. Đỗ Giải nguyên theo ĐTA 2023 (HYPT không chép điều này), ông làm tri huyện La Sơn, rồi cầm quân; ông mang chức Tổng binh Đồng tri, tước Hương Nghĩa Hầu (HYPT ghi là Hướng Nghĩa ⚠︎, D-T24). HYPT chép rằng khi duyệt lại sổ đinh của bản ấp, ông đã giảm được hơn ba mươi suất lính.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả
Đinh Thái Lãng

Đinh Thái Lãng

TK XVIII–XIX

1754–1809 · người biên soạn Hương Yên phổ tự · đời thứ 12

Tộc trưởng đời thứ 12, húy Vượng. Là Triều liệt đại phu, Hàn lâm viện thị giảng học sĩ, ông biên soạn Hương Yên phổ tự, bộ gia phả xưa nhất còn giữ được của dòng họ, có lời tựa đề năm 1795; HYPT-Chú xếp việc biên soạn vào đầu thế kỷ XIX ⚠︎ (D-H47).

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả

Đinh Nho Tĩnh

TK XVIII–XIX

Thế kỷ XVIII–XIX · Thái bộc Tự khanh · đời thứ 13

Con trai thứ năm của Đinh Thái Lãng, được HYPT gọi là Hy Tăng và GP2020 ghi là « Đinh Hy Tăng (hay Tĩnh) »; húy của ông là Tỉnh. Ông làm Thái bộc Tự khanh (tòng tam phẩm) và lấy vợ người họ Đặng. Ông là thân phụ của Tuần phủ Đinh Nho Quang, Tiến sĩ Đinh Nho Điển và Đinh Thị Hoan.

Xem chân dung →
Đinh Nhật Thận

Đinh Nhật Thận

TK XIX

1815–1866 ⚠︎ · Tiến sĩ (1838), nhà thơ · đời thứ 11

Chắt của Đinh Nho Côn, sinh ở Thanh Liêu (Thanh Chương, Nghệ An). Tự Tử Úy, hoặc Tử Quý theo một bài viết được ĐTA 2023 in lại ⚠︎ (D-T26); hiệu Bạch Mao Am. Đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1838), ông được bổ làm tri phủ, rồi bị cách chức; về sau ông từ chối phục chức ⚠︎ (D-H20). Vốn thân giao với Cao Bá Quát, ông bị bắt sau cuộc khởi nghĩa năm 1854 và bị giải về Huế; tại đó ông viết Thu dạ lữ hoài ngâm. Các nguồn kể khác nhau về việc ông được tha ⚠︎ (D-H21).

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả

Đinh Nho Quang

TK XIX

1831–1907 · Cử nhân, Tuần phủ · đời thứ 14, chi trưởng

Con trai của Đinh Nho Tĩnh, hiệu Bảo Hiên. Đỗ Cử nhân, ông làm Tuần phủ Phú Yên và Hà Tĩnh. Hàm của ông là Trung phụng đại phu theo HYPT, Phùng Nghị Đại phu theo GP2020 ⚠︎ (D-H26).

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả

Đinh Nho Điển

TK XIX

1846 hoặc 1848 ⚠︎ – 1884 · Tiến sĩ (1875) · đời thứ 14, chi trưởng

Con trai của Đinh Nho Tĩnh. Đỗ Tiến sĩ khoa Ất Hợi (1875), ông làm tri huyện Nghĩa Hưng, rồi là Trung thuận Đại phu, Hồng Lô Tự khanh và Biện lý sự vụ ở bộ Hình, trước khi được chuyển sang làm Biên tu ở Quốc sử quán.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả

Đinh Thị Hoan

TK XIX

Thế kỷ XIX · đời thứ 14

Con gái của Đinh Nho Tĩnh, chị em gái của Đinh Nho Quang và Đinh Nho Điển; thứ bậc của bà trong số các chị em gái còn bàn cãi ⚠︎ (D-H27). Bà kết hôn với Cử nhân Đặng Thai Giai, người Thanh Chương. Theo Hồi ký của Đặng Thai Mai, bà đã giúp đỡ phong trào của Phan Bội Châu.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả

Đinh Nho Lệ

TK XIX–XX

Thế kỷ XIX–XX · thầy đồ · đời thứ 14, chi thứ

Con trai của Đinh Viết Tân, đỗ tú tài (13B17). Ông không ra làm quan mà mở trường dạy học. Học trò tặng ông hai bức hoành phi sơn son thếp vàng, « Tam Lạc Dã » (ba niềm vui) và « Sư Như Huynh » (thầy như anh). Nhà thờ của ông ở Đông Mỹ có các câu đối do cháu nội ông là Đinh Nho Thanh soạn năm 2018.

Xem chân dung →

Đinh Nho Chấn

TK XIX–XX

1863–1935 · nho y · đời thứ 15, chi trưởng

Đỗ tú tài, thường gọi là « cụ Hàn Cống », người làng Mỹ Hòa (nay thuộc xã Sơn Tiến, Hương Sơn), con của Đinh Nho Thiếp. Trúng tuyển qua một kỳ thi dưới triều Duy Tân, ông được triều đình Huế giao biên soạn, trong khoảng năm đến sáu tháng, một bộ dược thư đối chiếu các vị thuốc của Trung Quốc và Việt Nam, với sự giúp đỡ của một cựu ngự y, cử nhân Phan Văn Mễ.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả

Đinh Doãn Tế (Đinh Nho Thục)

TK XX

1885–1910 · chí sĩ phong trào Đông Du · đời thứ 15, chi thứ

Tên khai sinh là Đinh Nho Thục, thuộc dòng Đinh Nho Thành (chi thứ). Năm 1908 ông vào học trường Đồng Văn ở Nhật Bản, rồi đến sống ở Bangkok. Ông mất năm 1910 tại Phù Xa, trên đường đến vùng biên giới Nghệ-Tĩnh, lúc 26 tuổi (≈ 25 tuổi tròn); ở một chỗ khác, ĐTA 2023 ghi hoán đổi nơi mất của ông với nơi mất của người anh em ⚠︎ (D-H29).

Xem chân dung →

Đinh Nho Bộc

TK XX

Thế kỷ XX · nhà hoạt động · đời thứ 15, chi thứ

Người làng Gôi Mỹ, anh em của Đinh Doãn Tế. Hoạt động cùng Ngô Quảng, ông bị bắt ở Vinh trong đêm 31 tháng 8, năm 1921 hoặc năm 1924 tùy nguồn ⚠︎ (D-H30), rồi bị đày ra nhà tù Côn Đảo, nơi ông sáng tác một bài thơ dài gửi gia đình.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả

Đinh Nho Dật

TK XX

Thế kỷ XX · người tiếp nối gia phả · đời thứ 16, chi trưởng

Con của Đinh Nho Kiên và cháu nội của Tuần phủ Đinh Nho Quang. Ông hiệu đính bản dịch quốc ngữ của Hương Yên phổ tự, do Đinh Nho Tuyên dịch khoảng năm 1926–1927, rồi phục hồi cuốn gia phả sau Cải cách ruộng đất. Bản chép HYPT năm 1987 chính là bản của ông.

Xem chân dung →

Đinh Nho Hân

TK XX

1904 – khoảng 1934 · tiến sĩ hóa học · đời thứ 16, chi trưởng

Cháu nội của Tiến sĩ Đinh Nho Điển, con của Đinh Nho Nhượng. Tiến sĩ hóa học, bảo vệ luận án tại Pháp; một lời kể trong gia đình, được ĐTA 2023 ghi lại, gọi ông là « tiến sĩ hóa học đầu tiên của toàn cõi Đông Dương », một sự so sánh mà không nguồn nào khác trong số các nguồn đã tham khảo xác nhận. Ông mất sớm.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả
Đinh Nho Liêm

Đinh Nho Liêm

TK XX

1924–2008 · nhà ngoại giao · đời thứ 16, chi thứ

Sinh năm 1924 tại Hương Sơn. Tổng lãnh sự tại Ấn Độ, rồi tại Ai Cập, Đại sứ tại Lào và tại Liên Xô (kiêm nhiệm Phần Lan), ông là Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao và Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V và khóa VI. Ông đã chuẩn bị việc dịch tập thơ của Đinh Nho Hoàn.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả
Đinh Xuân Lâm

Đinh Xuân Lâm

TK XX

1925–2017 · nhà sử học, Nhà giáo Nhân dân

Sinh tại Sơn Tân (Hương Sơn), là hậu duệ của những người họ Đinh Nho rời An Ấp đến Xa Lang; không rõ ông thuộc đời nào. Giáo sư sử học tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Nhà giáo Nhân dân, ông được xếp, cùng với Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng, vào « tứ trụ » của sử học Việt Nam. Theo báo chí, ông có hơn 570 công trình.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả

Đinh Xuân Vịnh

TK XX

1911–2015 ⚠︎ · học giả · đời thứ 16

Anh em với Đinh Xuân Bính, con của Đinh Xuân Bạt. Tốt nghiệp bậc cao đẳng tiểu học thời Pháp thuộc, ông làm thông phán ở Tòa Công sứ Vinh và dành tâm sức cho việc nghiên cứu và sưu tầm tư liệu. Trong hơn nửa thế kỷ, ông viết tay một bộ bách khoa về Việt Nam (40 cuốn vở, khoảng 40.000 mục từ), được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trao giải năm 1994 và được đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Từ bộ sách ấy, ông soạn ra Sổ tay địa danh Việt Nam (NXB Lao động, 1996; dày 754 trang theo ĐTA 2023).

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả
Đinh Nho Chương

Đinh Nho Chương

TK XX

Sinh năm 1934 · nhà toán học · đời thứ 17, chi trưởng

Con của Đinh Nho Dật. Tiến sĩ Toán học, Phó giáo sư, Nhà giáo Ưu tú, ông từng là chủ nhiệm khoa Toán Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ông được tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì và Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục.

Xem chân dung →
Đinh Nho Quỳ

Đinh Nho Quỳ

TK XX

1937–2022 · tộc trưởng · đời thứ 18, chi trưởng

Tộc trưởng đời thứ 18. Là cử nhân sư phạm, giáo viên vật lý, được mệnh danh là « Vua Vật lý » theo ĐTA 2023, ông được tặng Huân chương Kháng chiến. Ông chủ biên bộ Gia phả năm 2000 (Canh Thìn), nền tảng của gia phả dòng họ hiện nay, và cho tu bổ mộ phần và đền miếu. Tại hội thảo năm 2015, ông cũng trình bày hai tham luận về Đinh Nho Hoàn và về vợ cụ, bà Lê Thị Vệ.

Xem chân dung →
Đinh Phạm Thái

Đinh Phạm Thái

Đương đại

1937–2023 · nhà luyện kim và nhà thơ · đời thứ 17, chi thứ

Con của Đinh Nho Huề, em trai nhà thơ Quỳnh Dao. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nhà giáo Nhân dân, ông giảng dạy ngành luyện kim tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Theo một bài báo trên Quân đội nhân dân, cuối những năm 1960 ông đăng ký bằng sáng chế về tinh luyện thiếc, được hoàn thiện tại mỏ Tĩnh Túc (Cao Bằng), rồi năm 2015 đăng ký một quy trình tinh luyện bismut. Là nhà thơ, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Xem chân dung →

Đinh Nho Kiểu

TK XX

1940–2004 · nhà giáo · đời thứ 17

Sinh tại Sơn Hòa (Hương Sơn), tốt nghiệp khoa Vật lý Trường Đại học Sư phạm Vinh (1972) và được giữ lại trường giảng dạy. Theo bài viết tưởng nhớ ông, chuyến đi làm nghiên cứu sinh ở Đức dự kiến năm 1980 đã không thành vì một nhận xét của địa phương; sau đó ông dạy tại Trường cấp III Lê Hữu Trác.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả
Đinh Dũng

Đinh Dũng

Đương đại

Sinh năm 1951 · nhà toán học · đời thứ 17, chi thứ

Con trưởng của nhà ngoại giao Đinh Nho Liêm, sinh tại Thanh Hóa. Tiến sĩ (1979) rồi Tiến sĩ khoa học (1985) tại Đại học Lomonosov ở Moskva, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông nhận Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2015 cho các công trình về xấp xỉ trong số chiều rất lớn (phương pháp « chữ thập hyperbolic »). Năm 2017, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng giải thưởng.

Xem chân dung →
Đinh Nho Hào

Đinh Nho Hào

Đương đại

Sinh năm 1961 · nhà toán học

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học tại Viện Toán học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng khoa học của Viện Toán học. Tiến sĩ tại Berlin, habilitation tại Siegen, từng nhận học bổng của Quỹ Alexander von Humboldt, ông là Tổng biên tập tạp chí Acta Mathematica Vietnamica. Các công trình của ông thuộc các lĩnh vực phương trình đạo hàm riêng, bài toán ngược và điều khiển tối ưu.

Xem chân dung →
Đinh Tú Anh

Đinh Tú Anh

Đương đại

Sinh năm 1969 · tác giả cuốn lịch sử dòng họ · đời thứ 17, chi thứ

Con của Đinh Nho Thanh, chắt của thầy giáo Đinh Nho Lệ. Là cán bộ lãnh đạo trong ngành than Quảng Ninh (Tập đoàn TKV), ông là tác giả cuốn Lịch sử dòng họ Đinh Nho ở Hương Sơn (NXB Phụ nữ Việt Nam, 2023), công trình nghiên cứu chính đã xuất bản về dòng họ, và là người soạn bài ca dâng hương của dòng họ. Ông cũng đăng tải thơ của mình.

Xem chân dung →
Đinh Việt Anh

Đinh Việt Anh

Đương đại

Sinh năm 1978 · nhà báo · đời thứ 17, chi thứ

Em gái của Đinh Tú Anh. Thạc sĩ, nhà báo, bà là Phó Chủ tịch Hội Người mù Việt Nam và Tổng biên tập tạp chí của Hội, Đời Mới, phát hành dưới dạng chữ nổi, bản in, bản âm thanh và bản điện tử, dành cho hơn 72.000 hội viên của Hội.

Xem chân dung →
Đinh Nho Kiệt

Đinh Nho Kiệt

Đương đại

Sinh năm 2010 · kỳ thủ cờ vua · đời thứ 18

Kỳ thủ cờ vua. Theo báo chí thể thao, Đinh Nho Kiệt vô địch cờ vua trẻ thế giới (lứa tuổi dưới 12) tại Batumi năm 2022, giành sáu huy chương vàng tại Giải vô địch cờ vua trẻ Đông Nam Á năm 2023, rồi một huy chương vàng cờ nhanh tại Giải vô địch cờ vua trẻ châu Á năm 2024 (Almaty). Kỳ thủ này đạt chuẩn thứ ba tại Giải Đại kiện tướng Hà Nội năm 2025 và được FIDE phong danh hiệu Kiện tướng quốc tế vào tháng 1 năm 2026, lúc 15 tuổi tròn.

Xem chân dung →
Đinh Nho Hưng

Đinh Nho Hưng

Đương đại

Nhà ngoại giao · đại sứ

Vào công tác tại Bộ Ngoại giao năm 1999, được đào tạo tại Pháp, ông là Phó Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc từ năm 2017 đến năm 2020, trong nhiệm kỳ của Việt Nam tại Hội đồng Bảo an. Ngày 1 tháng 6 năm 2023, ông trình quốc thư lên Nhà vua Harald V và trở thành Đại sứ Việt Nam tại Na Uy. Việc ông thuộc dòng họ đã được gia đình xác nhận.

Xem chân dung →
Đinh Thị Hoa

Đinh Thị Hoa

Đương đại

Doanh nhân · đời thứ 17

Con gái của nhà ngoại giao Đinh Nho Liêm (việc thuộc dòng họ đã được gia đình xác nhận). Tốt nghiệp MBA tại Trường Kinh doanh Harvard (Harvard Business School), bà sáng lập tập đoàn Thiên Ngân – Galaxy, hoạt động sản xuất phim và kinh doanh rạp chiếu phim; bà là Chủ tịch Galaxy Studio, đơn vị đã sản xuất nhiều phim, trong đó có Đất rừng Phương Nam, và là cổ đông của Công ty Chứng khoán Thiên Việt. Báo chí kinh tế gọi bà là « bà hoàng điện ảnh tư nhân ».

Xem chân dung →

Dòng họ có quan hệ họ hàng — họ Đinh Văn ở Nghi Long

Những nhân vật này không thuộc dòng họ Đinh Nho: họ thuộc dòng họ Đinh Văn ở Nghi Long, dòng họ cũng như họ Đinh Nho tự nhận là con cháu của các con trai tổ mẫu Hoàng Quý Thị. Trang Gia phả (chương VII) trình bày mối liên hệ này.

Đinh Văn Chất

Đinh Văn Chất

TK XIX

1843–1887 · tiến sĩ, thủ lĩnh Cần Vương · họ Đinh Văn ở Nghi Long

Sinh ngày 10 tháng 7 năm Quý Mão (1843) tại La Giáp (Kim Khê, Nghi Lộc), cháu nội của Tiến sĩ Đinh Văn Phác. Đỗ Tiến sĩ, ông làm tri phủ ở Nghĩa Hưng (Nam Định); năm 1882, vua Tự Đức ban thưởng cho ông một tấm bài vàng khắc chữ « Liêm bình cần cán ». Ông theo phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi và phát động khởi nghĩa ở Nghệ An.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả

Đinh Văn Chấp

TK XIX–XX

1882–1953 · Hoàng giáp (1913) · họ Đinh Văn ở Nghi Long

Con trai của Đinh Văn Chất: con trai thứ hai theo bài « Đinh Văn Chấp » trên Wikipedia, con út theo bài « Đinh Văn Chất » ⚠︎ (D-H36). Khi gia đình bị kết án, ông mới từ bốn đến sáu tuổi tùy theo nguồn; ông được che giấu, rồi lưu vong sang Phúc Kiến. Về nước năm 1898, ông tiếp tục việc học và đỗ Hoàng giáp năm 1913. Theo ĐTA 2023, ông là đời thứ 4 đỗ đạt trong gia đình; Wikipedia tính là bảy đời ⚠︎ (D-H35). Ông là thân phụ của nhà sư Thích Minh Châu.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả
Thích Minh Châu

Thích Minh Châu

TK XX

1918–2012 · tu sĩ Phật giáo, dịch giả · họ Đinh Văn ở Nghi Long

Tục danh Đinh Văn Nam, con của Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, là người con thứ tư trong mười một người con của Hoàng giáp (con trai thứ 3 theo bài « Đinh Văn Chấp » trên Wikipedia). Sau khi du học ở Tích Lan và Ấn Độ, ông nhận học vị tiến sĩ Phật học; ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, được thành lập năm 1964 hoặc 1965 ⚠︎ (D-H37). Ông thực hiện bản dịch trọn vẹn đầu tiên sang tiếng Việt năm bộ Nikāya của kinh tạng Pali.

Xem chân dung →🌳 Xem trong cây gia phả

Các tiểu sử theo Gia phả họ Đinh Nho, bản Canh Thìn (2000) và Đinh Tú Anh, « Lịch sử dòng họ Đinh Nho », NXB Phụ nữ Việt Nam (2023); mỗi trang nhân vật ghi rõ nguồn riêng.