
Đinh Nho Công
1637–1695 · Tiến sĩ (1670), ngự sử · đời thứ 7
Con trai thứ hai của Đinh Hữu Luân, húy Tung. Đỗ thi Hương năm 14 tuổi, ông phải trở về làm ruộng từ năm 18 đến năm 28 tuổi, rồi học lại. Đỗ Giải nguyên năm 1669, ông đỗ Tiến sĩ (đệ tam giáp đồng tiến sĩ) khoa Canh Tuất, năm 1670, lúc 34 tuổi (33 tuổi tròn): vị Tiến sĩ đầu tiên của dòng họ. Làm Thiêm đô Ngự sử, ông được vua ban lời khen « Ngôn ngữ phong lăng ».
Ông có hai bà vợ đều họ Đặng và mười hai người con, trong đó có sáu con trai ⚠︎ (D-H09); bốn người trong số đó lập nên các chi của dòng họ. Được nhà Lê phong Anh Nghị Đại Vương, rồi được nhà Nguyễn phong phúc thần, ông là một trong bốn vị phúc thần của đền Gôi Vị. Xem trang « Đinh Nho Công » trong mục Bốn vị phúc thần.
Những mốc chính
- Sinh
- Ngày 9 tháng Giêng năm Đinh Sửu (1637)
- Mất
- Ngày 27 tháng 2 năm Ất Hợi (1695) · 59 tuổi (≈ 58 tuổi tròn)
- Mộ phần
- Lăng Kim Hoa (xứ Cây Hóp, Phúc Đậu)
- Các bà vợ
- Bà họ Đặng, tên Đô († 1674); bà họ Đặng, vợ thứ hai
- Đời
- 7
Nguồn
- HYPT-Dật [tr. 21–26]; bia lăng Kim Hoa (« húy Tung »)
- ĐTA 2023 [p. 70, 83–84]
- Hội thảo năm 2015 (HT2015): Nguyễn Khắc Thuần; Nguyễn Hữu Tâm
- D-H09; D-T16, D-T17, D-T18