1637–1695. Từ nhà nông trở thành Tiến sĩ, quan Ngự sử nổi tiếng cương trực, cha của hai trong bốn vị phúc thần và là bố chồng của vị thứ ba. Sau khi mất được phong Anh Nghị Đại vương, đến triều Nguyễn lại được gia phong.
Ⅰ
Từ ruộng đồng đến khoa cử
Là hậu duệ đời thứ bảy của Đinh Phúc Diên, ông được các bài tham luận mô tả là một lương nông chăm chú kinh sử. Năm hai mươi tám tuổi, ông bỏ nghiệp cày bừa, theo thầy lên kinh đô dùi mài kinh sử.
Ông đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất, năm 1670, đời vua Lê Huyền Tông. Tên ông đến nay vẫn được khắc trên bia Tiến sĩ ở Văn Miếu — Quốc Tử Giám, Hà Nội.
Nhớ ơn thầy, ông cho dựng ở xứ Cồn Mai một am nhỏ thờ thầy họ Trần: am Bạch Vân — cái tên về sau thành tên ngôi đền.
Ⅱ
Quan Ngự sử, và một ân xá định đoạt tất cả
Ông làm Giám sát Ngự sử, rồi Thiêm Đô Ngự sử. Sách Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên, được dẫn tại hội thảo, chép rằng năm Chính Hòa thứ 13 (1692), Tham chính Đinh Nho khi khảo xét thành tích đứng vào loại ưu, được thăng Thiêm đô Ngự sử. Các bài tham luận chưa thống nhất về trấn: Sơn Tây theo sách này, Sơn Nam theo một bài khác.
Nhà vua ban cho ông bốn chữ « Ngôn ngữ phong lăng » — lời nói sắc bén, thẳng thắn.
Chính trong chức ấy mà nên câu chuyện của vị phúc thần thứ tư. Một năm đại hạn, vâng chiếu đi tra xét ngục tù ở Nghệ An, ông nhận ra nỗi oan của một ông Thủ bộ họ Phan mà các quan tỉnh cho là không thể tha thứ, liền ra lệnh tha bổng. Ông họ Phan mất mà chưa kịp báo đáp; con gái ông, Phan Thị Viên, về sau thành vợ người con trai thứ ba của ân nhân.
Ⅲ
Gia thất và việc phong thần
Ông có hai bà vợ và sáu người con trai. Người con thứ ba, do bà Đặng sinh, là Đinh Nho Hoàn; người con thứ sáu, Đinh Nho Côn, vào lập nghiệp ở Thanh Liên và thành tổ một nhánh. Bốn người con trai của ông là gốc của bốn chi trong dòng họ.
Sau khi mất, ông được phong 英毅大王 Anh Nghị Đại vương. Đến triều Nguyễn, ông được gia phong Dực bảo trung hưng phúc thần.
Ông được thờ tại đền Gôi Vị, thờ kèm theo con dâu theo thông lệ dành cho vợ thứ: bài của Bảo tàng Hà Tĩnh viết rằng đền thờ « hai vị Tiến sĩ thời Lê là Đinh Nho Công và Đinh Nho Hoàn ». Trang này còn gắn với ông ngôi đền Bạch Vân (đền Thịnh Xá).